Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2023





TÌNH QUÊ

Lê Thị Hoài Niệm

 

Từ Anh đi mãi mới về

Nên đành lỗi hẹn lời thề năm xưa

Hôm ấy Tháp Nhạn nhiều mưa

Sông Ba dâng nước, bóng dừa soi nghiêng

 

Trông Anh dáng vẻ ưu phiền

Trang trải tâm sự oan khiên với đời

Xuân Lộc anh chẳng nỡ rời

Quê hương bỏ lại chơi vơi nỗi buồn

 

Đồng Xuân, Chí Thạnh khơi nguồn

Đầm Ô Loan vắng người thương đứng chờ.

Qua Tuy An quá bơ vơ

Mằng Lăng, Tuy Phước thẫn thờ lìa xa

 

Chóp Chài mây phủ la đà

Hồ Sơn tĩnh lặng ngân nga chuông chùa

Chiều qua Thành phố Tuy Hòa

Mưa giăng giăng lối mờ mờ bóng trăng

 

Đường lên Nhạn Tháp khó khăn

Nhìn xuống Ngọc Lãng băn khoăn vô lường

Chờ sáng anh lại lên đường

Đà rằng 21 nhịp có nhường anh đi?

 

Phú Lâm xa lúc xuân thì

Bây giờ nơi đó cớ chi vẫn  buồn?

Nhớ chiếc áo trận phong sương

Bao năm gắn bó chiến trường xông pha!

 

Bạn anh mãi tận Hòa Đa

Chiều qua Đông tác vô ga chờ tàu

Bao nhiêu kỷ niệm úa nhàu

Tìm về Mỹ Thạnh thấy xao xuyến lòng

 

Nhớ xưa từ biệt Hoà Đồng

Đường xa tiến bước nỗi lòng riêng mang

Bây giờ nơi ấy còn chăng

Chùa Trầm cây thị trái vàng thơm hương?

 

Anh đi, bỏ lại người thương

Chiều chiều ra đứng bên đường đợi ai?

Quốc lộ Một, chặng đường dài

Nhanh vượt Đèo Cả nhớ hoài Phú Yên.

Lê Thị Hoài Niệm.
 

Thứ Tư, 19 tháng 7, 2023

VĨNH BIỆT LÊ NHƯ PHONG

Lê Thị Hoài Niệm

 

Một nén nhang thắp muộn tiễn đưa linh hồn của Lê Như Phong sớm về cõi vĩnh hằng, phủi bỏ hết những buồn đau gian khổ trong những ngày qua, để những người ở lại, từng là chị, là bạn bè với Phong nhắc nhở vài câu chuyện về người quá cố.

Khi gia đình Phong dọn đến ở làng tôi, cách nhà tôi khoảng bốn căn, lúc tôi đã vào lớp đệ thất (lớp 6) của trường công lập trong tỉnh tại thành phố. Cha của Phong làm nghề thầy thuốc Bắc và có đến hai bà vợ với một bầy con nheo nhóc trai gái đủ cả, mà Phong là đứa con trai trưởng trong nhà,  được gọi theo thứ tự là …Cu A, B, C... Cu A với tôi cùng một cỡ tuổi, nhưng vì Cu A Phong học trễ đến hai lớp nên luôn gọi tôi là chị, khi chúng tôi tan trường về lại quê để nghỉ hè..

Năm Phong học đệ ngũ, mùa hè về làng đã bị bọn “mặt trận giải phóng miền Nam” bắt vào núi, đã “bị” bọn chúng đưa vào trại huấn luyện để học cách “bắn pháo”. Và Phong là một tên “Cộng sản trẻ” ngoài ý muốn. Nghe Phong kể lại những ngày sống trên núi vô cùng gian khổ, bị “học tập chính trị” liên miên, kiểm thảo dài dài và ăn uống thì thiếu thốn nên đói dài dài, nhưng bị theo dõi gắt gao nên khó mà trốn thoát, dù ban đêm cũng có về làng để gom lương thực theo toán.

Cậu Bảy, cha của Phong không thích bọn nằm vùng nên mới đổi chỗ ở dọn đến làng tôi an toàn hơn, vậy mà con trai của cậu vẫn bị bắt. Thời gian này bọn con nít choai choai chúng tôi rất “sợ” bị bắt đưa lên núi như Phong, nên ít khi về làng, nếu không có quân đội dưới quận đi tảo thanh. Và may mắn cho Phong, đã trốn về trình diện với chính quyền Quốc gia khi giữ được một tờ “truyền đơn” kêu gọi quân mặt trận hồi chánh nhằm lúc Lính đi hành quân gần triền núi.

Phong ở trọ luôn dưới thành phố tiếp tục trở lại trường học, vì còn tuổi “vị thành niên”. Thời gian Phong bị bọn “mặt trận giải phóng” bắt không bị ai nhắc nhở đến, nhất là bạn hữu trong trường học, vì nhờ các giáo sư khuyên nhủ, đừng tạo cho Phong mặc cảm…lên núi. Mãi đến năm Phong học hết lớp đệ nhị, thi trượt tú tài, Phong vào quân trường Đồng Đế và mang huy hiệu cánh gà Trung sĩ trên vai.

Đơn vị Phong chọn là Lính địa phương quân tỉnh Tây Ninh. Ở đó, chàng Trung sĩ đẹp trai-Phong rất đẹp từ dáng người cao lớn đến khuôn mặt chữ điền, mắt sáng, mũi cao, nên đã lọt vào “mắt xanh” của một cô nữ sinh trường Nông lâm súc, và là con của một ông chủ hãng bột…củ mì. Hồi đó nghe Phong kể về mối tình của họ rất nên thơ và đẹp đẽ vô cùng, chúng tôi cũng chúc mừng cho Phong và hy vọng họ sớm thành đôi lứa. Nhưng Phong được cho đi học lớp “Sĩ quan đặc biệt” ở Thủ Đức. Khi mãn khóa, Phong không về lại  Tây Ninh, mà đơn vị mới lại ở thành phố Nhatrang, phụ trách “hành chánh tài chánh” được theo ban …phát lương cho Lính. Lúc sau này, Trung uý Lê như Phong được các “người đẹp” ở trung tâm y tế Nha trang “o bế” kỹ, nấu ăn cho Phong thường xuyên và quan tâm săn sóc sức khỏe, nhưng Phong cứ lơ lơ vì tình yêu đã dành hết cho người đẹp Tây Ninh nông lâm súc. Thật là người đàn ông có tình.

Những tưởng cuộc đời của Phong cứ thăng tiến đều đều, thì hạnh phúc sẽ đến. Nhưng  khi ông thân sinh người yêu của Phong, Từ Tây Ninh tìm ra … gia thế của Phong không…giàu như gia đình ông ( lúc này cậu Bảy đã mất, và gia đình Phong phải dọn về trại định cư dưới Đông Tác, nhà cửa ở quê bị…mất hết), thì ông “cấm” con gái liên lạc với Phong, cắt đứt tình cảm giữa hai người. Ngày đó cố ấy “hăm dọa” sẽ tự tử nếu mộng không thành, dù ba của cô bắt phải kết hôn với người “môn đăng hộ đối”.

 Nhưng rồi miền Nam hoàn toàn sụp đổ, và cũng như hằng triệu quân nhân miền nam đi vào tù, Phong cũng trong số đó.

Sau hơn 3 năm “học tập tốt”, Phong ra về lại quê và tiếp tục cuộc đời của một tù nhân nghèo khổ trong nhà tù lớn, nên không còn liên lạc được với người xưa. Phong đi làm đường sắt, và những bữa cơm trưa trong quán ăn có cô chủ quán không xinh đẹp, nhưng có tiền, giúp Phong giải quyết đưọc cái bao tử lúc nào cũng đói. Tình yêu không nảy sinh qua cái bao tử, nhưng Phong bị …cuộc sống đưa đẩy nên cưới cô chủ quán đó về làm vợ. Tình với cô học trò nông lâm súc cứ mãi theo Phong, nên bà chủ tiệm cơm ghen tuông ra mặt. Bà ghen đến phát điên dù đã có đến 4 đứa con(?), mỗi lần bà lên cơn điên là đi cùng làng khắp xóm, múa may quay cuồng và chửi lung tung, cả nhà phải đi tìm và khổ sở mới đưa được về nhà. Phong biết mình có lỗi, nhưng “con tim có lý lë riêng của nó”, đành xuôi theo mà sống. Khi có chương trình HO cho những cựu quân dân cán chính từng ở tù 3 năm hơn được ra đi Mỹ, thì Phong bị xui xẻo không có giấy ra trại để nộp đơn, vì ngày đó …quên lấy, hay người có quyền cố ý không đưa(?). Phong trở lại trại tù…xin lại tờ giấy, thì ai đó đã lấy tên Phong mất rồi, nên dù có ra Đà nẵng, Hà nội khiếu nại bằng đồng tiền của bạn bè nước ngoài giúp, sự may mắn không gõ cửa nhà Phong.

Người khổ vẫn khổ, người điên càng ngày càng điên hơn. Phong mãi nuôi vợ bằng chút tiền của vợ còn lại khi bà bị cưa hai chân vì bệnh tiểu đường. Bạn bè thỉnh thoảng gửi tặng Phong ít tiền, nhưng “tiền vào nhà khó như gió vô nhà trống” ở cái xã hội con nít đi học phải tốn đủ mọi thứ tiền, nên nghèo vẫn hoàn nghèo, dù Phong cũng cố gắng đi làm
“bảo vệ” cho những nơi người ta cần….bảo vệ.

Vợ Phong mất là một giải thoát. Và căn nhà của bà ta cũng bị…giải phóng luôn vì nợ nần phải trả. Phong cũng “nghỉ hưu” để giúp giữ cháu cho con đi làm kiếm sống. Và Phong ra đi trong sự nghèo nàn khốn khó luôn đeo đuổi sau nhiều năm vợ mất, người yêu hun hút xa bay.

Rồi cũng xong một đời Lê Như Phong! người hàng xóm một thời. Vĩnh biệt nhé Phong, Cầu nguyện linh hồn của Phong siêu thoát về thiên đường, sống thảnh thơi nơi đó, tránh sự bất hạnh, nghèo khó của kiếp người chốn trần gian.

 
 

 


THƯ NGỎ

Ban Tổ Chức Đại Hội Cựu Giáo Sinh SƯ PHẠM QUY NHƠN tại Houston.
Kính Thưa qúy Thầy, Cô Giáo & qúy Anh Chị Em đồng môn cựu Giáo sinh SPQN từ khóa 1 đến khóa 13.

         Thành phố Houston rộng lớn, tuy không nhiều thắng cảnh hữu tình, nhưng là thành phố có mỹ danh “Nắng Ấm Tình Nồng”, nơi sinh sống của một số anh chị em cựu Giáo sinh SPQN, từ lâu mong muốn được một lần đón tiếp qúy Thầy Cô, qúy ACE đồng môn về thăm qua cho biết nơi mình định cư, cùng nhắc nhở tìm về những kỷ niệm đẹp một thời…Nhưng mãi đến năm nay, chúng tôi mới có cơ hội Tổ Chức một lần Hội ngộ.

            Kính thưa qúy Thầy Cô, qúy Cựu Giáo Sinh Sư Phạm Quy Nhơn.

Với ước mong được sự tham dự đông đủ của qúy vị, để một lần đến nơi đây, khi ra về tất cả đều có một kỷ niệm đẹp, một tình cảm khó quên. Chúng tôi đã thành lập một Ban Tổ Chức cho kỳ Đại Hội:

Trưởng Ban:              DƯƠNG THỊ TỪ (khóa 6)

Phó Nội vụ:               BÙI THỊ HỒNG PHÚC (khóa 5)

Phó Ngoại vụ:           LÊ PHAN TUYẾT (khóa 8)

Ban Liên lạc:             VÕ THỊ BÉ (khóa 6)

Ban Văn nghệ:          NGUYỄN THỊ SỬU (khóa 8)-TRẦN KIM QÙY

Thủ quỹ:                    VÕ THỊ BÉ (khóa 6)

Đại diện vùng Bắc Cali: XUÂN THÙY

Đại diện vùng Nam Cali: LÊ THỊ HÂN

Đại diện khóa từ 1 đến 10 (chưa liên lạc được các khóa 11 đến 13)

Khóa 1:          Chị NGUYỄN THỊ BẠCH TUYẾT

Khóa 2:          Chị NGUYỄN THỊ HỒNG

Khóa 3:          Chị…..YẾN

Khóa 4:          Chị DIỆU KHANH

Khóa 5:          Chị THẮNG

Khóa 6:          Chị LÊ THỊ THANH

Khóa 7:          Chị THANH TRÀM-Chị THU THỦY

Khóa 8:          Chị NGUYỄN THỊ NGỌC HOAN

Khóa 9:          Chị BÍCH THỦY

Khóa 10:        Chị NGUYỄN THỊ NHÀN

***ĐẠI HỘI được Tổ Chức trong ba ngày:

-TIỀN ĐẠI HỘI: Thứ Bảy, lúc 11 giờ trưa ngày 21 tháng 10 năm 2023 tại tư gia của chị Bùi thị hồng Phúc (khóa 5), 8435 Battleoak, Houston, TX 77040 . Phần ẩm thực do Ban Tổ chức khoản đãi
          -NGÀY ĐẠI HỘI: Chủ nhật, 22 tháng 10 năm 2023 tại Đại tửu lầu KIM SƠN: 10603 BELLAIRE Blvd, HOUSTON. TX 77072

Giá vé: 50 Mỹ kim / một người.

Thời gian từ 11 giờ trưa đến 4 giờ chiều.

Ban nhạc: One man band Kim Bằng & âm thanh Anh Tài.

-HẬU ĐẠI HỘI: Du ngoạn và lửa trại tại vùng ven biển Gaveston ( sẽ có thông báo chi tiết sau).

PHI TRƯỜNG: Tại Houston có 2 phi trường: George Bush Intercontinental phía Bắc, cách khu vực tổ chức khoảng 50 phút. Phi trường Hobby airport nằm ở hướng Nam, cách khỏang 35 phút. Nếu quý đồng môn không có bạn bè đưa đón, hãy liên lạc với Trưởng ban tổ chức để nhờ người đưa đón. Từ Phi trường Bush, sẽ có giá khỏang 90 đô cho 3, hoặc 4 người cùng thời gian. Và phi trường Hobby khoảng 60 đô.

HOTEL: Vì không biết có bao nhiêu đồng môn cần trú ngụ, nên BTC không có “deal” để được giá rẻ. Địa chỉ hotel gần nhất, rất khang trang và lịch sự:
GARDEN INN 6855 W SAM HOUSTON Pkwy S, HOUSTON. TX 77036.

Rất mong sự tham dự đầy đủ của qúy Thầy Cô và quý đồng môn, để kỳ đại hội được thành công tốt đẹp.

Xin ghi tên, đóng góp các tiết mục Văn nghệ và tiền ẩm thực ngay từ thư ngỏ này, hạn chót là ngày 30 tháng 9 năm 2023, để Ban Tổ chức dễ dàng sắp xếp mọi việc. Thành thật cảm ơn

Mọi liên lạc xin gọi về các số đìện thoại sau đây:

Dương Thị Từ:                      832 866 5453

Bùi thị Hồng Phúc:               713 480 2721

Nguyễn Thị Sửu:                  832 863 4897

VõThị Bé:                              346 329 3411

Lê Phan Tuyết:                     832 682 6067

Nguyễn thị Nhàn                  713 306 8828

 

Ban Tổ chức Đại hội CGSSPQN tại Houson

Trưởng Ban: Dương Thị Từ.

Thứ Tư, 7 tháng 6, 2023

 








Tìm đâu xa…

Sáng ra đi dạo một vòng

Nhìn lên giàn mướp mà lòng lâng lâng

Tình yêu cuộc sống rất gần

Gẫm chi những chuyện phù vân trên đời

Trái cà, trái dưa tốt tươi

Chùm hoa nở rực mỉm cười đón ta

“Điền viên” vui thú tuổi….già

“Sinh-Lão-Bệnh-Tử” như…pha cõi trần.

LTHN

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2023

 


Ngày Anh trở lại thăm quê

Men theo lối cũ ghé về nhà em

Tìm cây hoa sứ thân quen

Nụ hoa trắng mỏng nhụy vàng tỏa hương

Từ những mờ sáng tinh sương

Nơi em đứng đợi đến trường bên nhau

Bây giờ “xứ sở” đổi màu

Tìm cây hoa sứ tìm đâu bây giờ?

Lêthị Hoài Niệm

Thứ Bảy, 13 tháng 5, 2023

 

MÁ TÔI.

          Lê thị Hoài Niệm

          Trong giấc mơ, tôi lại thấy má tôi về, một ao ước mong chờ trong ngần ấy năm liền, mà những chị em khác trong nhà, chưa bao giờ có duyên may hạnh ngộ.      

            Người má tôi hơi ốm, bà mặc chiếc áo màu lam. Má tôi đứng giữa những dãy nhà, có cái đã cất xong, cái đang lợp tranh dang dở, trên một khoảng đất rộng nhưng mờ mờ ẩn hiện như giữa vùng đồi núi cây cối xanh tươi.  Má tôi đứng giống như người “cai” đang coi thợ làm việc, nhưng tôi chỉ thấy một mình má tôi và bốn bề thật yên tĩnh, thinh lặng. Tôi mừng lắm, muốn chạy đếm ôm lấy má, nhưng như có một bức màn vô hình ngăn cản nên vẫn đứng xa Người, chỉ cất tiếng hỏi:

            -Má có khoẻ không? Sao má cất nhà để làm gì? má tôi cười vui vẻ trả lời:

            -Ừ, thì má cất nhà sẵn để mai mốt cô Năm, thiếm Hai, thiếm Thông đến có mà ở ...

            -Nhưng mà má..., tôi chưa kịp nói hết câu, má tôi đã cắt ngang:

            -Má giúp gì được cho ai thì giúp con à, giờ má cũng rảnh mà..., thôi má đi nhen...

Giật mình, giấc mơ tan biến, nhưng lời nói của má tôi như còn văng vẳng đâu đây. Má cất nhà! Mà cất nhà sẵn để những người bà con, hàng xóm, bạn bè của má tôi đến có chỗ để ở? Tự nhiên tôi bật khóc, những giọt nước mắt nhớ thương má vô cùng.

Má tôi mất đến nay đã tròn hai mươi năm, được chôn cất trên một ngọn đồi ở Suối Cát, Cam Lâm, Khánh Hòa (Nha trang). Mặt quay nhìn về hướng biển, và chung quanh là trùng trùng cây cối, dốc đồi còn hoang vu chưa khai phá hết. Má tôi nằm yên nghỉ nơi đó, mỗi lần về thăm nhà, mộ má là nơi chúng tôi đến viếng đầu tiên, và vẫn cầu nguyện linh hồn má sớm được siêu thoát về chốn vĩnh hằng. Nhưng nơi ấy, má vẫn còn lo cho nhiều người khác như những ngày Bà còn ở thế gian sao?

…..

Bọn trẻ chúng tôi lớn lên trong khung cảnh thanh bình của làng quê. Buổi sáng, má tôi gánh hàng lên chợ lúc mặt trời chưa mọc ở hướng đông, bà phải đi hết một cánh đồng, qua vài ngôi nhà cất cheo leo giữa đồng, mà nhà nào cũng trồng đầy cây cao, bóng rậm, khiến người yếu bóng vía nhìn vào những cành lá đong đưa với những hình thù quái gỡ, cứ tưởng đám ma trơi đang đánh đu trên cành cây nhát mình, nên có bữa má tôi chạy trối chết, tới chợ rồi má vẫn không thở ra hơi. Chỉ nghe má tôi kể lại mà mấy lần theo má đi chợ khuya, nhất là mùa tết, có thêm mấy người phụ má gánh hàng lên chợ, chị em tôi cứ vừa chạy mà thót lạnh sống lưng, như có..ma đang chạy sau mình nên cứ chen chạy giữa.

Dù má tôi không biết nhiều về chữ Việt, nhưng không biết từ đâu, bà lại thuộc rất nhiều chuyện dân gian như Thoại Khanh Châu Tuấn, Trần Minh khố chuối, Chàng Nhái kiễng tiên, Con chó đá, Tấm Cám, Thạch Sanh-Lý Thông, Ngưu lang Chức Nữ, Lưu Bình Dương Lễ, Phạm Công Cúc Hoa v…vv….mà mỗi buổi trưa, khi chúng tôi ngồi nhổ tóc ngứa cho ông bà, thì bà kể chuyện để răn dạy bọn trẻ chúng tôi mai sau lớn lên thành người tử tế, đàng hoàng…

Thỉnh thoảng mấy anh chị lớn trong làng, bạn của chị lớn tôi, cũng được Má tôi “bảo trợ” để tập tành làm những đêm văn nghệ có thi-ca-múa-hát cũng hay đáo để. Tôi vẫn nhớ chị Năm Kiểng, người có vóc dáng thanh tú nhất làng, đã đóng vai Kim Liên trong một vở kịch gì đó mà tôi không nhớ tên, và anh Hai Lành, chắc hồi đó anh đẹp trai lắm, đóng vai Đinh Lăng. Tuy còn nhỏ, nhưng không hiểu  sao tôi lại nhớ mấy câu chị Kim Liên  than thở khi không tìm thấy anh Đinh Lăng : "Anh Đinh Lăng giờ đây đâu nhỉ? Anh của em yêu quí nhất đời. Anh đi mù mịt xa khơi, Chim trời tung cánh phương trời mãi bay…" trong khi một anh nữa tên Khánh, đóng vai Kỳ Lân, người có quyền thế bắt chị về làm thiếp, mà anh đóng vai ác làm bọn trẻ chúng tôi rất ghét, đến nỗi gặp anh chỗ nào là chúng tôi la lên “ Kỳ lân thổi lửa cửa đình, cho xin nhúm lửa kẻo sình nồi cơm!”

Má tôi lại bắt bọn trẻ chúng tôi phải đến Chùa cúng bái mỗi ngày rằm hay mồng một.

Từ lúc đến chùa này, má tôi thành “Mạnh thường quân”- từ ngữ bây giờ họ thường dùng để chỉ những người bỏ tiền của giúp đỡ một việc làm có ích nào đó, chứ hồi đó má tôi chỉ thường đem gạo, nếp hay nhang đèn đến chùa để cúng. Khi có lễ lạc gì thì bà đem bánh cớm nếp, bánh in, bánh ú,  bánh tro hay bánh ít lá gai do chính bà chỉ cho mấy chị tôi làm,  để nhà Chùa phát cho con nít trong làng. Bởi đó, mỗi mùa Trung thu đến, dưới ánh trăng ngà, ngoài việc được xem những màn “múa lục cúng” do các chị lớn múa với những cây đèn cầy lồng trong hoa sen đẹp ơi là đẹp, nhà chùa còn tập trung con nít lại, xếp thành nhiều hàng dọc để nhận quà bánh, thường là bánh ít lá gai, bánh in đậu xanh, v..vv.. thì con bé lanh chanh tôi, vừa nhận xong ở hàng này, đã chui vào hàng khác đứng tiếp, mà mấy chị lớn chẳng có …la rầy như mấy đứa bé kia. Có sự “thiên vị”?

 

Những người Lính dân vệ, sau gọi là Nghĩa quân, cũng chọn nhà tôi làm “bản doanh” vì có sự lo lắng của má tôi. Bà thường “tiếp tế” cho họ nay cái áo, mai vài ký gạo đem về nhà phụ giúp gia đình vì lương lính quá ít ỏi. Thỉnh thoảng với đàn vịt cả ngàn con, được cậu họ tôi chăn ngoài ruộng, cũng được Má tôi kêu bắt một ít đem về  phụ cấp cho họ. Đôi lần những người Lính địa phương quân về làng công tác, cũng được má tôi “mở rộng vòng tay” nấu những bữa cơm ngon cho họ ăn vững bụng mà làm tròn công việc. Cây đờn ghi-ta và cái sân rộng của nhà tôi cũng là nơi thu hút bọn con nít, ngay cả những anh chị lớn gần có gia đình, họ đến để nghe những người Lính hát và tập cho họ những bài ca như Tình lúa duyên trăng, Trăng rụng xuống cầu, Chuyến đò vĩ tuyến, Trăng thanh bình, Tình tự tin v..v. và những bài hát có những lời hát đơn sơ mộc mạc, nhưng gói ghém tình cảm của người dân quê mà đến mãi bây giờ tôi vẫn còn nhớ vì đã từng hát thuộc lòng.

Ngay cả lính trung đoàn 47 khi về làng, nhà tôi cũng thành một phần trạm tiếp liên của họ, vì sân vườn nhà tôi rất rộng rãi, nên “Bắc bình, Anh dũng, Đống đa, Tư tưởng, Lê lai, Non nước, …” những mật mã truyền tin cứ kêu vang trong máy PRC10, thời gian chúng tôi chưa đủ lớn để biết sợ khi “Mặt trận giải phóng miền Nam” đã xuất hiện ở làng trong.

 

Một buổi sáng má tôi đi chợ sớm đã phải hốt hoảng trở về và cấm mọi đứa nhỏ không được đến trường tiểu học vì có “lính giải phóng” đi bắt người, nghe nói họ xuất hiện trong chợ, trong trường. Những người đi chợ sau ngang qua con lộ chính nhà tôi nghe tin dữ đều ngưng lại, má tôi lại phải trả lời những thắc mắc của họ. “Lính giải phóng” chỉ là những “thằng Chín”, “con Mận”, “chú Năm An”, “chị Bảy”, họ cũng là những …người làng, nhưng vì “bất mãn chế độ”(?), hay có cha mẹ, anh em bị bắt vì ngày trước đi KHÁNG CHIẾN CHỐNG TÂY rồi theo Việt minh. Ngay cả ba tôi cũng từng là “tù nhân” của chế độ mới sau khi có Thủ tướng NĐD. Lúc đó má tôi vừa lo buôn bán, vừa nuôi em nhỏ, lại lo lắng cơm nước cho ba tôi ở trong tù, vì nhiều khi nhà tù xã đông quá, nên người nhà phải “tiếp tế” thức ăn, và thuốc men để chữa trị khi bệnh hoạn.

 

Ba tôi và đám con trai rời khỏi làng quê vào thành phố rất sớm, sau khi bị “quân giải phóng” bắt vào rừng vì tội “nuôi dưỡng lính quốc gia”, và được thả  sau một tháng "học tập tốt”. Dù biết rằng ba tôi đi, má tôi phải vất vả nhiều lắm, nhưng bà không cam lòng để ba tôi chịu khổ có khi chết oan uổng vì đám giặc nằm vùng, hoặc lên núi trở về giết để lập công.

 

Có những đêm hai bên đánh nhau ở làng trong, nhà tôi cũng bị dính vào trong cuộc, khi mà quân trang, quân cụ của các anh lính nghĩa quân luôn có trong nhà. Má tôi đã cùng mấy chị em tôi đem dấu vào lẫm lúa cho thật nhanh. Lúc những người lính nghĩa quân thất thế chạy về qua nhà, ghé vào giếng lấy nước uống, vì hấp tấp nên bỏ rơi vãi vài vật dụng trong sân nhà tôi, và chính con bé tôi, vì mùa hè nghỉ học về nhà, đã phải “cầm đèn bão” đi trước, đàng sau là họng súng dí vào gáy với con người mặc bộ bà ba đen, đằng đằng sát khí, bắt tôi dẫn ra vườn để  tìm kiếm những người nghĩa quân vừa bị thương chắc đang lẩn trốn đâu đây. Lúc đó hồn vía tôi lên chín từng mây, sau lưng là họng súng lạnh băng, đằng trước là khu vườn cây lá sum suê, bóng tối dày đặc, không biết có người Lính nào lỡ núp trong đó, bị phát hiện rồi họ bắn nhau, chắc tôi là người phải hứng trọn những băng đạn nghiệt ngã. Tội nghiệp má tôi khóc lóc, năn nỉ họ để má tôi đi thế. Nhìn bà thiếu điều quì lạy van xin họ tha cho tôi, tôi muốn nhào tới ôm lấy bà, ôm thật chặt má tôi, rồi ra sao thì ra, nhưng họ cứ dí súng vào lưng tôi bắt đi trước, may quá họ không tìm ra người Lính nào núp lại. Thoát nạn.

 

Những ngày ba tôi xa nhà và mấy đứa con vào bậc trung học ở tỉnh, là những ngày má tôi và hai đứa em gái nhỏ phải sống trong kinh hoàng hằng đêm, dù có hay không còn ấp chiến lược, ấp tân sinh. Cứ tối trời, phía “bên kia” về tụ họp dân làng bắt phải đi đào đường, lập giao thông hào là má tôi phải đi. Sáng ngày lính quốc gia lên kêu dân đi …lấp lại đường rồi mới ra ruộng hay chợ búa, thì má tôi cũng vác cuốc đi lấp, thỉnh thoảng em gái tôi mới đi thay cho bà. Má tôi là người đàn bà thật can đảm, tình thương dành cho chồng con quá bao la, mênh mông như trời biển, nên cứ gồng mình  sống bám ở làng vì ruộng vườn còn đó, thóc lúa cần có để nuôi sống chồng con trong những ngày lánh nạn CS mà chưa có việc làm ổn định, chưa tự túc được cái ăn.

 

Rồi vẫn theo lời má tôi kể lại, thêm một buổi tối hãi hùng kinh khiếp, khi đám người mệnh danh “giải phóng” đó lập nên “toà án nhân dân” để xử bắn đến ba người một lúc. Họ kết tội những người dân làng tôi đã "ngoắc” máy bay đến bắn phá sào huyệt của họ. Vì thông thường thì họ ở chen lẫn với dân, dùng nhà những người có thân nhân đi tập kết hoặc lên núi làm bản doanh, và cũng chính những người này, ban ngày là nông dân bình thường, làm ruộng làm rẫy, buổi tối thành những “du kích” đi đặt mìn, chỉ huy dân phá đường đắp mô, và cũng chính họ, đã đào những hầm trú ẩn, để dấu những cán bộ nòng cốt của “Mặt trận giải phóng miền Nam”, mà nếu Lính Quốc gia có đi hành quân lùng sục, hạ sát một vài người, thì chúng la làng lên là giết dân lành, mà thực chất, là những người có “dây mơ rễ má” với bọn giặc cộng …

Má tôi kể đêm đó thật tối trời, họ bắt loa kêu gọi tất cả dân làng phải tập trung ở giữa một đám ruộng thật to của ông Chánh trước đồng trống, và ở đó có sẵn một mớ đèn dầu leo lét, vài cây đuốc ánh sáng lập lòe trông thật ma quái. Trên một “khán đài” có 3 cây cột, họ cột 3 người dân làng là ông Bảy T, anh Ba H, cậu Mười Ph. , là những người “có tội với nhân dân”! Một bản cáo trạng dài đọc hoài không thấy hết, với nhiều từ ngữ lạ hoắc má tôi không tài nào hiểu và nhớ, chỉ biết họ qui tội 3 người này đã dám “ngoắc” máy bay địch đến bắn phá, tiêu diệt “cơ sở cách mạng” của họ. Và sau đó là những tiếng cắc bùm chỉa vào đầu từng người một, từng cái đầu ngoẹo xuống với tiếng la hét đớn đau ngắn ngủn ớn lạnh giữa đêm trường, dù chung quanh người và người, nhưng má tôi nói giống như cảnh âm hồn địa phủ với một lũ quỉ âm binh đầu trâu mặt ngựa đang vờn tới vờn lui phun ra mùi tử khí làm lạnh dọc sống lưng, tứ chi người bị tê liệt. Họ “xử tử” người mà chẳng cần bịt mắt, người xem cũng chẳng dám hé môi, có hãi hùng kinh khiếp thì cũng ráng mà bụm miệng lại và khóc thầm, má tôi cũng trong số những người đó.

Cuối cùng thì má và hai em gái tôi cũng đã bỏ làng trốn đi trong đêm tối, khi mà ở làng ngoài có tổ chức một đêm văn nghệ với đám “văn công “ của “Bộ đội”. Má tôi lấy cớ đi xem văn nghệ và trốn luôn vào thành phố ở, bỏ lại ruộng vườn, nhà cửa, thóc lúa và cái máy xay gạo nằm chơ vơ không ai coi sóc.

 

Gần mười năm sau đó, một lần nữa, má tôi không còn nước mắt để khóc khi thằng con trai Lính vào tù, thằng con mà má tôi thương nhất, bà không những nuôi con là Lính trong những ngày tháng trước 75, mà còn nuôi cả đám bạn Lính của con bằng những bữa cơm đầy, khi đám Lính có những ngày nghỉ phép từ Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn-Dục Mỹ.

Và cũng chính Má là người đã lặn lội đi vào các trại tù từ Cà Tum, Trảng lớn, Bù Gia Mập để thăm nuôi thằng con trai Lính...ngụy đang bị "tù cải tạo". Để rồi cuối cùng, những đứa con lần lượt xuống thuyền vượt biển từ thằng con Lính mới ra tù, đền thằng Út đi “nghĩa vũ quân sự” của cộng sản, mặc cho gió to sóng cả, sống chết chưa biết ra sao. Má tôi cắn răng nuốt ngược nước mắt vào lòng đưa từng đứa con ra chỗ hẹn, thế cho ba tôi đang bị đám cán bộ khóm phường cứ dòm ngó, theo dõi. May mà phước đức nhà tôi còn đầy, nên đám con của má đã đến được bến tự do an toàn.

Bây giờ, mỗi lần con tôi ở xa về thăm nhà, khi chúng rời đi, tôi buồn khóc nhớ con đến quặn lòng, mặc dù biết rõ con đi về đâu, có điện thoại gọi từng giờ. Càng thương nhớ con, tôi  lại nhớ và thương má tôi quay quắt, thắt ruột. Tôi cứ nghĩ đến cảnh bà phải chịu đựng sự xa các con, cứ từng đứa con lần lượt rời nhà ra đi mà chưa biết trôi giạt về đâu, có khi chết mất xác ngoài biển khơi không chừng, những ngày ấy má tôi buồn biết chừng nào, nhưng bà vẫn cam tâm chịu đựng cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, cũng không đủ mặt đàn con trong giờ phút ngậm ngùi tiễn biệt, vì căn bệnh Sars quái ác..

 Tiếc rằng chúng tôi, những đứa con-cháu của má, chẳng có ai huởng được hết những đức tính của bà. Má tôi, một người đàn bà bình thường, ít chữ nghĩa, nhưng sao lại có quá nhiều từ tâm, sự hy sinh tột bực và lòng can đảm cũng như sức chịu đựng vô biên.

  MẸ THƯƠNG ƠI!

Nha trang, Phù đổng con về

Tưởng nhìn dáng Mẹ đứng chờ bên hiên 

Trong vòng tay ấm Mẹ hiền

Con miên man kể nỗi niềm nhớ thương

Từ ngày con bỏ quê hương

Từ giã Cha Mẹ xuống thuyền ra khơi

Mẹ buồn, ngăn giọt lệ rơi.

Từ trong ánh mắt vạn lời yêu thương       

Tim gan quặn thắt, tình vương

Vì đâu con - Mẹ hai đường chia xa.         

Thu tàn, đông đến, xuân qua         

Ngần ấy năm tháng Mẹ già đơn côi         

Mẹ đau. Ruột thắt gan rời

Vượt ngàn cây số qui hồi chốn quê          

Nhưng con đau đớn thẫn thờ         

Sao Mẹ nỡ bỏ đi về cõi nao?

Nhìn di ảnh Mẹ trên cao    

Nén hương khấn nguyện mắt trào lệ rơi  

Con về đây, Mẹ thương ơi!            

Nghìn thu vĩnh biệt không lời từ ly

Nguyện cầu Phật tổ từ bi.

Phóng quang tiếp độ, hộ trì Mẹ con!

Lê thị Hoài Niệm

 

 

Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2023

 Bao nhiêu lần em đến rồi đi                                             

Bao nhiêu mùa đông em không tồn tại

Nhưng thích em, tôi không ngần ngại

Đón em về cho thêm đẹp mắt ai.

Em cười vui mỗi độ sớm mai.

Dù thơm hương hay sắc màu sặc sỡ

Chỉ nhìn em thắm nụ cười rạng rỡ.

Bấy nhiêu thôi, đủ..thoải mái Tâm hồn.







Lthn.

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2023

 


LẠI MỘT THÁNG TƯ

Lê Thị Hoài Niệm

 

Tháng Tư! lại một tháng Tư

Tháng Tư nhắc nhớ tình người xa quê

Tháng Tư nén uất vào thơ

Tháng Tư lắm kẻ nằm mơ giật mình

Tháng Tư giặc cộng cướp dinh

Tháng Tư đỏ máu, đầu-mình lìa nhau.

Tháng Tư thắp nến. Cúi đầu.

Tháng Tư Tưởng Niệm nỗi đau ngút ngàn.

Tháng Tư xưa, quân giặc tràn

Tháng Tư Chính phủ đầu hàng! Thảm thay.

Tháng Tư Anh bỏ đường bay

Tháng Tư hoảng loạn sống ngày ngỡ đêm.

Tháng Tư dù cố đi tìm

Tháng Tư mất hút cánh chim lạc đàn

Tháng Tư đau xót, ngỡ ngàng

Tháng Tư khóc hận hỏi chàng nơi đâu?

Tháng Tư Trời bắt xa nhau?

Tháng Tư ngơ ngác đổi màu áo hoa

Tháng Tư nước mắt nhạt nhòa

Tháng Tư thảm cảnh mất cha, mất chồng.

Tháng Tư bẻ gãy tình chung

Tháng Tư hát khúc “Nghìn trùng chia xa”

Tháng Tư gạo mục, bo bo

Tháng Tư tem phiếu bán cho đầu người

Tháng Tư tắt lịm tiếng cười

Tháng Tư mưa đổ tiễn …đời còn chi?

Tháng Tư nghiệt ngã sử ghi

Tháng Tư bóp chết những gì đẹp xinh

Tháng Tư “nhờ đảng quang vinh”?

Tháng Tư tiền đổi, nhà mình…mất tiêu

Tháng Tư cuộc sống liêu xiêu

Tháng Tư lao động là chiêu đảng dùng

Tháng Tư triệt tiêu “người hùng”

Tháng Tư …từ đó chập chùng can qua

Tháng Tư ngần ấy năm xa

Tháng Tư nhìn lại quê ta, thở dài!

Tháng Tư thay đổi bên ngoài

Tháng Tư dân tính mãi hoài chia đôi

Tháng Tư ôi! đất nước tôi

Tháng Tư khi kể chuyện rồi có quên?

Lê thị Hoài Niệm

 

Thứ Hai, 20 tháng 3, 2023

Sắc Hoa Màu Nhớ - Nhạc Sĩ : Nguyễn Văn Đông - Tiếng Hát : Vân Thanh - Lê...

Nhạc phẩm: Sắc hoa màu nhớ của NS Nguyễn Văn Đông
Trình bày: Ca sĩ Vân Thanh và Lê Thị Hoài Niệm
Youtube: Lưu Phú.

Tháng Tư Đen Không Dễ Gì Quên!

Bài viết: Tháng Tư Đen Không Dễ Gì quên của Lê Thị Hoài Niệm
Người đọc và làm youtube: Việt Linh và Nhược Lan (ST)

Thứ Năm, 16 tháng 3, 2023

Cây mai nhà tôi
Nhà tôi có một cây mai
Mùa này nhuỵ nở hoa khai mỹ miều
Nụ vàng rực rỡ đáng yêu
hiu hiu gió thổi, liêu xiêu tâm hồn
Lê thị Hoài Niệm





 

Thứ Tư, 8 tháng 3, 2023

 


LỖI HẸN…

 Xin lỗi các bạn khóa 8 Sư Phạm Qui Nhơn, tôi đã lỗi hẹn rồi.

Mỗi lần vào face book, nhìn thấy cảnh các bạn  tụ họp để bàn tính cho công việc tổ chức ngày “Họp mặt Kỷ Niệm 50 năm ngày ra trường” lòng tôi thật bồi hồi xúc động, ước gì mình cũng được ngồi trong nhóm đó, như lời hứa “sẽ về” để góp vài ý kiến vụn vặt thì vui biết chừng nào. Nhưng làm sao đây khi đại dương mênh mông cách trở, mà lúc này chân cẳng “người có tuổi” chẳng cho phép ngồi lâu đến vài chục giờ bay. Phải chi được leo lên tàu lửa nằm nghe tiếng bánh xe lăn xình xịch trên đường ray chỉ mấy giờ thì đến, hay một vài giờ chạy xe thì sung sướng đến cỡ nào. Thôi đành lỗi hẹn lần hội ngộ đặc biệt này các bạn nhé. Buồn!

Đã nửa thế kỷ trôi qua rồi đó sao. Nhớ mới hôm nào lơ ngơ láo ngáo kéo chiếc valy ra khỏi cổng phi trường QN, tìm đường vô trường Sư Phạm, nhưng lại leo ngay trên chiếc xe lam chạy vào thành phố, đến khi xe dừng chả thấy trường SP nơi đâu, bác tài bèn cười hì hì và nói…lộn đường rồi cô ơi!  Ấy vậy mà đã 50 năm thật rồi.

Biết bao buồn vui nơi đó còn ghi lại trong tâm thức, thỉnh thoảng lại hiện về có khi là những trận cười vui thoả thích, nhưng đâu đó là những chuyện buồn của những người con gái tuổi mới lớn, không còn trẻ để tung tăng, nhưng chưa đủ lớn để hiểu đời, quá nhiều mộng mơ nhưng không phải tất cả thành hiện thực.

Không biết kỳ này các bạn sẽ nhắc nhở đến những ai, Ai còn? Ai mất? Bạn nào đã không còn tỉnh táo để góp tiếng cười chung? Hay quan san cách trở nên không thể hiện diện? Ôi 50 năm biết bao vật đổi sao dời, vậy mà các bạn ở Nhatrang vẫn còn ngồi lại bên nhau để tổ chức kỷ niệm “Ngày ra trường”, ngày mà mỗi đứa mỗi nơi sau khi cầm tờ sự vụ lệnh chọn nhiệm sở, ngày mà có mối tình tan? Và có đôi bạn kết thành gia thất sau đó. Quý hóa quá tình đồng môn của chúng ta. Và quý hoá quá tinh thần của các Thầy Cô Giáo trong Ban tổ chức.

Văng vẳng đâu đây tôi nghe được những tiếng cười vui, hét to mừng rỡ khi các bạn gặp lại nhau, những mẫu chuyện râm ran nhắc lại kỷ niệm  những ngày ngồi trong lớp, trong nội trú tưởng chừng như không baơ giờ dứt, những tiếng hát “vượt thời gian” không chấp nhận tuổi đời, những trò chơi bao năm rồi vẫn không thay đổi…, nhiều và nhiều quá phải không các bạn? Chắc không thể có 50 năm nữa rồi, nhưng còn  gặp nhau được ngày nào là vui ngày đó, khi thời gian không ngừng lại mà chúng mình thì tuổi đời cứ xồng xộc lôi đi.

Chúc các bạn vui thật nhiều, vẫn hát thật to “ Một đàn Sư phạm đi qua, chả muốn chi nhiều chỉ muốn….khỏe thôi. Ố tang tình tang, Ố tang tình tình”

Lê Phan Tuyết. nhị 2.