Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

VUI BUỒN NỘI TRÚ SPQN

 



Lê thị Hoài Niệm-Phan Tuyết.Tặng khóa 8.

 

Khoảng thời gian gần đây, khi có trang Face book thịnh hành, những bạn bè cũ của khóa Tám trường Sư phạm Qui Nhơn xưa từ từ liên lạc được với nhau nên mừng lắm, không kể trời Đông hay trời Tây. Dẫu rằng trước đó có những kỳ ‘đại hội’, nhưng chỉ quy tụ được một số ít người tham gia, lại không có nhiều bạn cùng khóa. Và rồi chuyện ‘nghìn trùng xa cách’ được rút ngắn khi có những cuộc hội ngộ vượt đại dương, thôi thì bạn bè nhận được tin của nhau, ngoài chuyện…mừng húm, ‘chuyện cũ tích xưa’ huyên thuyên kể gần như không dứt. Kỷ niệm cứ hiện về đâu đó, dù rằng đời sống với chuỗi dài đến mấy mươi năm, qua bao thăng trầm với đủ mọi biến chuyển gắn  liền với cuộc đời dài mút mắt.


Trong sinh hoạt thường nhật của một người…có tuổi, chuyện quên lãng vẫn thường xảy ra, nhiều lúc cái mắt kính vắt ngay trên đầu mà lục lọi tìm tòi khắp chỗ, cái chìa khóa cầm trên tay mà đi kiếm lung tung, thậm chí cái phone đang cầm để nói chuyện mà bảo người đầu dây bên kia…chờ chút để tìm cái phone, huhuhu….Nhưng hễ nhắc đến trường xưa, bạn cũ thì hầu như có bức tranh sống động đang sờ sờ hiện ra trước mặt, nhất là những ngày tháng học tại trường Sư phạm Quy Nhơn, nơi ngả rẽ của tuổi học trò và thời gian tập làm ‘người lớn’, đáng kể nhất phải là những ngày sống trong NỘI TRÚ mới đúng là ‘chuyện bây giờ mới kể’!.

 

            Ngày đó…,

Chỉ vài tháng ‘tá túc’ nội trú cũ, với một phòng có hơn ba mươi nữ giáo sinh vừa cũ vừa mới của hai khóa bảy và tám. Với lính mới tò te của mấy nàng khóa tám như tôi, vẫn có sự rụt rè e ngại của khóa đàn em, thậm chí ban đêm còn nghe tiếng khóc ‘hích hích’, khọt khẹt mũi của vài bạn vừa rời vòng tay mẹ (?). Nên tuy đông đảo, ồn ào, huyên náo…, nhiều lúc rộn ràng như đội quân sắp xung trận trước giờ đến lớp học, vẫn làm tôi cảm thấy hụt hẫng vì hoàn cảnh sống mới, dù các chị, bạn khóa bảy rất thân tình, nhưng khó…biết hết ai là ai?. Mãi đến gần hai tháng sau, khi nội trú mới do Cơ quan Usaid Mỹ yểm trợ xây xong, tất cả giáo sinh của nội trú cũ được vinh hạnh ‘khánh thành’ nội trú mới, và giáo sinh khóa nào được chọn phòng ở theo khóa đó, lớp đó mới thật sự thoải mái, yên lòng. Chim nhỏ sổ lồng, những ngày vui trọn vẹn vì được chọn bạn theo ý muốn, cứ một phòng bốn người cùng lớp, có đủ giường tầng, bàn học và tủ để vật dụng riêng tư. Nội trú Nam bên trái và Nữ bên phải theo cái nhìn từ cổng chính đi vào, và những dãy nhà giữa giờ đã thành phòng học, và phòng dành cho Giáo sư trú ngụ, cũng như một cái nhà ăn và ‘căng tin’ để bán nhu cầu thực phẩm cho giáo sinh và khách thăm viếng.

 

            Phòng chúng tôi gồm bốn đứa ở ba phương trời cách biệt, đang học cùng lớp Hai, khóa Tám: Thu Mai là con vị quan đầu tỉnh ở tận vùng địa đầu giới tuyến Quảng Trị, Nguyễn Yến là người Bắc di cư chính tông trú quán Nha trang, Như Thuận người địa phương xứ nẫu, và tôi đến từ vùng biển đẹp Nha trang với Yến. Vậy mà không biết tại sao chúng tôi lại chọn chung phòng? bộ tứ đã liên kết chặt chẽ thành một gia đình nhỏ trong một đại gia đình lớn nội trú mới vừa khánh thành, chúng tôi thân thương nhau không khác chi chị em trong nhà lúc đó. Thu Mai cứ nhận mình là ‘mẹ chồng’ dù chẳng thấy ‘thằng con quý tử’ ở tận nơi mô, cho Yến nhóc tì làm con dâu, tôi với chị Như Thuận làm …em chồng của Mai, và đi đâu cũng xưng hô như vậy, làm nhiều người cứ tò mò ngó sững, rồi tụi tôi cười ha hả, đúng là bọn …tào lao! Nhưng nhờ vậy mới có chuyện để phân chia công tác trong phòng, lúc nào cũng sạch sẽ, khỏi lo sợ khi ban giám thị đi khám phòng bất thình lình (và thường như vậy trong suốt hai năm nội trú). Chị Như Thuận hiền như …cục bột, ai nói gì cũng cười hết, nhưng có tài…coi bói số dzách (hồi đó cả bọn cả tin, nhưng bây giờ chưa chắc), nên mỗi bữa chiều đi nhà ăn về, là tụi tui xìa tay cho chị Thuận xem quẻ, rồi bàn tán để cười nắc nẻ.

Một bữa kia, thấy chị Thuận nhận một lúc mấy bức thư, mà chị ấy đọc tới đọc lui hoài, thỉnh thoảng mỉm cười…khoái chí, xong rồi cất thư dưới gối. Thế là ba đứa chúng tôi ‘họp kín’, đợi lúc chị ấy đi ra ngoài, bèn “ăn cắp” thư ra xem thử, đến đoạn người yêu của chị ấy viết: “… Anh nghĩ Em sẽ rất vui và sẽ chúc mừng cho Anh, vì Anh sắp cho ra đời một đứa con, đứa con mà Anh đã nâng niu ấp ủ từ bao lâu nay…” ba đứa đọc thư trộm của chúng tôi vừa đọc tới đó đã không tin vào mắt mình, thôi hí hửng cười vui, đứa nọ đưa mắt hỏi đứa kia, và len lén cất thư lại chỗ cũ không thèm đọc tiếp với tâm trạng bất bình, thắc mắc đủ chuyện.

 

           

    Bọn tôi thương chị Thuận bao nhiêu thì ghét tác giả bức thư  bấy nhiêu, nên khi chị ấy trở về nội trú là ba đứa thay phiên nhau “canh chừng”, kẻo chị ấy làm điều không hay như một vài chị khóa trước đã làm vì bị “tình phụ”. Sáng, trưa, chiều, tối  vẫn thấy chị Thuận tỉnh bơ, đã vậy chị còn cười vui chứ chẳng thấy âu sầu, áo não hay thậm chí khóc thầm, nên bọn điệp viên không không thấy bèn lộ ngay chân tướng để phỏng vấn đương sự vì sao mà mặt mũi cứ chơn chơn, không thấy buồn thấy khóc? Ban đầu chị ấy ngơ ngác chẳng hiểu ba đứa nói chuyện gì, đến chừng Thu Mai nhịn không nổi bèn hỏi chị cớ sao Anh Th. sắp “có con” mà chị không buồn? Thế là cả bọn bị chị rượt chạy trối chết vì cái tội đọc trộm thư, chị vừa chạy vừa cười chảy cả nước mắt, trong khi bọn tôi thì ngớ ra, lại nghĩ thầm chắc chị ấy buồn quá hóa…khùng!

            Thì ra người yêu của chị là một Nhà thơ quân đội, và đứa con anh sắp cho ra đời chỉ là một…Tập thơ !.

 

            

    Hình như những người lính trẻ của các binh chủng thuộc quân lực Việt Nam Cộng hòa lúc đó, nếu có cơ hội ghé đến trường Sư phạm Q.N, đều thích được làm quen với các cô giáo tương lai, nên chi phòng Tiếp tân của nội trú những ngày cuối tuần từ sáng đến chiều không lúc nào vắng bóng người hùng đến viếng, và  chúng tôi thì hay kéo cả đám đi quanh hành lang, vừa đi vừa hát lớn: “…một đàn Sư phạm đi qua, chẳng thiếu chi nhiều chỉ thiếu tiền tiêu, ố tang tình tang, ố tang tình tình…”, một hình thức nhắn gửi rằng thì là quí vị hãy để yên cho chúng tôi học hành, chúng tôi chẳng cần gì cả ngoài chuyện chờ đến tháng Mẹ gửi tiền để đóng tiền ăn và mua quà vặt ở căng-tin cũng như ngoài chợ khu hai, khu sáu.

 

Ngoài chị Thuận là người Qui Nhơn, cuối tuần chị hay xuất trú, còn Yến thì ra nhà người cậu bên phía biển thuộc khu gia binh. Còn hai đứa tôi chẳng có bà con thân thích gì bên ngoài, nên chỉ đi chợ khu sáu, khu hai, thỉnh thoảng theo các chị khóa bảy hay bạn phòng khác đi thăm …ghềnh Ráng, nơi có mộ Hàn Mặc Tử, thời gian còn lại nằm nhà…ca vọng cổ, móc áo gối hay đan áo cho người nhà, lâu lâu chờ ‘thân mẫu’ của Thu Mai vào thăm, mang quà cho TM và mấy đứa được ‘ăn ké’. Vì rảnh rỗi như vậy, mà là năm nhất niên chưa có nhiều bài vở, nên tôi thích đi trực dưới phòng tiếp tân, để vừa nhìn thiên hạ ra vô và chạy đi tìm người thân cho khách, vui lắm.

 


    Tôi vẫn thích “trực ban” cuối tuần dù ngày nắng hay mưa, được nhìn đủ mọi hạng người, được biết tên những người bạn mới trong nội trú, được chứng kiến những cuộc hội ngộ kỳ thú, những buổi gặp gỡ gia đình rất cảm động, bất ngờ. Thường thì khi vào gọi được thân nhân, thì họ cùng nhau ‘xuất trú’. Luật nội trú là khi có thân nhân vào thăm, phải ghi tên cho người trực biết, xuất trú khi nào và khi về lại cũng phải ghi chú. Chỉ có những trường hợp hai bên có sự…bất hòa sao đó, người được khách tìm không chịu bước qua cổng, ngồi lại tại phòng TIẾP TÂN, và màn ‘khẩu chiến’ sẽ xảy ra, nhất là những chàng bên nội trú nam sang tìm người “cộng chỉ số”, để ‘thanh toán món nợ tình’ mà chàng nghe phong phanh nàng sắp sửa đưa thuyền sang bến khác(?). Phải công nhận là khóa bảy có quá nhiều người đẹp nổi tiếng, nên ôi thôi có hằng hà sa số LÍNH TRẬN MIỀN XA vô nội trú tìm gặp, tụi…đàn em như chúng tôi cứ phải chạy thục mạng để tìm người đẹp cho qúy ông, nhiều khi thấy các bạn đứng dọc theo ban công, thế là có màn gọi…tiếp hơi, cứ lầu này gọi phóng lên lầu trên, gọi vang nội trú, trực ban khỏi chạy. Có lúc vài ông lính chơi bạo bước vào bên trong sân, là đề tài để mấy bạn đang đứng ở ban-công tha hồ la hét đòi “bắt trụng nước sôi”, khiến mấy chàng tá hỏa tam tinh, vừa phóng trở ra vừa than phiền: sao nội trú có quá nhiều…cờ tam tài bay phất phới trên ban công vậy? sao mà các cô n giáo sinh dữ quá? (quần áo giặt phải phơi trên mấy chấn song, dẫu biết rằng ‘mất thẩm mỹ’ nội trú, nhưng đành phải vậy).


Hồi đó tôi cũng có mấy người bạn là Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân trong quân trường Nha trang, mỗi dịp tàu cặp bến Qui Nhơn là nhào vô nội trú tìm tôi để …tán gẫu, may ra tôi có thể giới thiệu cho một cô ‘ý hợp tâm đầu’ ?. Mấy cái ông Lính này cũng quỷ lắm, ổng bảo mình ‘giới thiệu’ bạn để làm quen, nhưng ra điều kiện: ‘bà giới thiệu cho tụi tui, làm ơn đừng giới thiệu mấy cô người Quảng, dù họ có đẹp (?), nhưng nghe họ nói chuyện, chắc tui tui…không thể hiểu gì đâu, có gì bà làm ơn …thông dịch lại nghen’ hahaha….(Xin lỗi các bạn chuyện bây giờ mới kể, vì mấy ông bạn quý này người miền Nam, họ không thể nghe và hiểu giọng Quảng của mình, lý do vì tôi thường nhờ họ mang kẹo mạch nha, kẹo gương, đặc sản của Quảng ngãi, nhờ các bạn xứ Quảng mua dùm để gửi về cho ba má, nên họ nghĩ chắc tui chỉ có bạn là người…Quảng, mà không biết có nhiều bạn khác khắp miền Trung từ Quảng Trị đến Phan Thiết quy tụ về đây !).

 

 Có một lần một chị bạn khóa bảy, có ‘quen’ một ‘Lính trận miền xa’ qua mục ‘Tìm bạn bốn phương’(sau này nghe kể lại), thư từ qua lại thắm đượm tình nồng(?) nhưng chưa ‘giới thiệu dung nhan’ của nhau. Bữa đó anh đột ngột đến tìm mà không báo trước cho chị, có lẽ anh muốn tạo sự ngạc nhiên?. Nhưng khổ nỗi, tuần đó mấy răng cửa của chị bị hư nên phải nhổ hết để làm lại răng mới, nên khi tôi lên phòng tìm, thì chị quýnh quáng, vì không muốn anh nhìn chị  là ‘người đẹp hăng rết’, mất đi hình ảnh mà người hùng đang…mơ tưởng, mà ‘nói láo’ chị ra ngoài rồi là không xong, vì chị luôn tỉ tê với anh rằng cuối tuần chị…không hề xuất trú (?). Cuối cùng thì một chị trong phòng tự nguyện…thế thân xuống gặp, nhận là người …tình thư, và câu chuyện tình thình lình bị đứt cái rụp, vì người đẹp thế thân cứ trả lời…trớt quớt những chuyện mà chàng và nàng thường tâm sự qua thư. Xù !

 

Năm nhị niên, khóa tám được thăng thiên, nên ngự tít lầu ba. Phòng chúng tôi nằm ngay góc trái, nhìn được mọi hướng, thấy cả đường vào nội trú, nhìn thấy cả căng tin bên dưới, và nhìn thấy cả phòng quý Thầy trú ngụ phía bên kia thuộc dãy lầu phòng học. Bây giờ bốn đứa đều đi từ Nha trang, ngoài tôi và Yến, còn có Tuyết Trần và chị Tuyết Nguyễn, người được mệnh danh là ‘Tuyết Mông rô’. Không hiểu ai đã đặt cho chị cái tên này, có lẽ vì mái tóc của chị lúc nào cũng búi cao lên, giống tài tử Marylin Mông rô chăng? Tuy chị hát rất hay, nhưng khổ nỗi, mỗi lần chị đi phòng tắm là cả góc nội trú đều phải nghe ‘tiếng hát át tiếng than!’. Chị đã có ý trung nhân là một phi công ở Nha trang, nên chị sinh hoạt khác bọn tôi, thường thì anh ra tìm chị mỗi chủ nhật và họ đi ra ngoài, và tính chị ‘rất kỹ’ nên ít khi chia xẻ những gì chị có cho ba đứa…đàn em, nên chúng tôi cũng chơi trò ‘trả đũa’ cho phải phép.


Yến Bắc thì hay ra nhà cậu, dù thỉnh thoảng có rủ tụi tui ra ‘ăn cơm chực’, nhưng thường thì chỉ còn Tuyết Trần và tôi. Bọn tôi hai đứa ngồi xe lam ngang qua khu ‘eo nín thở’ để ra chợ tha hồ mua thức ăn về, vì ngày chủ nhật không ăn dưới nhà bàn, được bác Thành trả lại cho mỗi đứa 60 đồng lúc bấy giờ (đóng tiền ăn 1800/tháng). Không hiểu sao hồi đó…ăn chi mà nhiều quá, vừa mua khoai lang của bà bán hàng…quen, vừa mua bánh mì thịt, họ thường bỏ thêm vào cái trứng hột vịt, kiểu ăn của người…Qui Nhơn (?), lại mua mỗi đứa một ký…bánh ướt với chai xì dầu hiệu con mèo, mèn ơi ăn xong…no quá không biết làm sao, cứ vừa đi vừa đếm một hai cho nó.... xuống, vừa thở hơi ra…haha.


Nội trú có luật mười giờ đêm phải tắt đèn, và dĩ nhiên tivi cũng tắt luôn, thế là cả bọn phóng lên phòng để học bài. Phòng thì giường đôi, đứa nào nằm dưới thì đỡ, chứ nằm trên như tôi và Yến…leo lên cũng mệt và để đèn dầu học cũng khó khăn, lớ ngớ là đèn dầu đổ…cháy mùng, và có lần phòng bên KT sắp bị cháy vì …ngủ quên nên quơ tay đổ đèn dầu. Hú viá. Có một lần nghe tiếng pháo kích nổ đâu gần trường lúc nửa đêm, chỉ phóng một cái là tụi tôi ngồi ngay dưới đất rồi, khỏi cần…leo xuống chi cho lâu.


Phòng tôi tếu thật, bốn nàng đều…khác tính nhau: một chị Tuyết Mông rô thì lúc nào cũng hát hò vui đáo để, nhưng tính...kẹo kéo, còn Tuyết Trần thì hiền khô, luôn u uẩn một trời sầu, Yến bắc thì lanh chanh, có ‘người yêu’ đang học bay bên Mỹ, nên suốt ngày chờ nhận và viết thư tình. Còn tôi thì …vui là chính, ‘buồn mà chi em !’ vừa học vừa ‘luyện’ viết văn, nên là một trong những tên nhận nhiều thư nhất trong nội trú hằng kỳ. Vậy mà cả bọn ở chung, sinh hoạt chung chẳng có chuyện gì …khó xử. Vả lại bọn tôi chẳng có người nào …nấu ăn trộm trong phòng, nên không gây khó cho bạn ở chung, chỉ thỉnh thoảng có thêm các bạn phòng khác…nhào tới tán gẫu cho dzui rồi cười thoải mái, hoặc kêu đi tập văn nghệ như lớp trưởng Sương, trưởng ban văn nghệ Sửu, Kim Phúc, … và nhiều bạn nữa.

Hồi đó lớp nhị ba có Thu Hằng hát hay lắm, thỉnh thoảng T.H. qua phòng tôi vào lúc…nửa đêm về sáng và ngồi hát những bài nhạc tiền chiến du dương. Phải nói là giọng Thu Hằng rất ngọt ngào, truyền cảm, là giọng đơn ca nữ chính của trường, nên tên giáo sinh nào còn thức cũng lắng nghe. Bữa nọ, tôi đợi Thu Hằng hát xong, hai đứa bèn lấy cái tấm ra giường màu trắng, chạy u xuống sân nội trú phủ lên mấy hòn đá giữa sân tối thui tối thùi, đợi một lúc thật lâu, chắc chắn có người nào còn thức, hay đi…nhà vệ sinh(?) đã nhìn thấy màu trắng xuất hiện, rồi tụi tôi rón rén đi xuống xếp tấm ra lại đem về phòng. Sáng hôm sau có tin đồn nội trú…có ma. Hahahaha (chờ chị Hậu, chị Nghi Trinh- giám thị nội trú ngủ rồi mới dám phá, chứ mấy chị mà biết là ăn đòn, trừ điểm ‘hạnh kiểm’ như chơi. Thương và cảm phục hai chị phải cực nhọc và thật uyển chuyển, mới cai quản nổi một bầy mấy trăm đứa con gái mà nhiều tên nghịch như …quỷ của hai khóa liên tiếp mỗi năm)…


  nội trú thỉnh thoäng cũng có chuyện không hay xảy ra mà. Từ khóa bảy năm trước cũng có chuyện buồn xảy ra từ một chị …ngoại trú vào ở ké với bạn. Đến nỗi khi đi qua căn phòng gần cầu thang bên dãy lớp học mỗi tối khi có việc, tụi tui cứ phải chạy thục mạng lúc mới xảy ra chuyện chết chóc của hài nhi, và khi ngủ mỗi đứa phải để một cái dao sét dưới gối để…trừ ma. Tin có ma là chuyện thường, nhất là ‘Cây hoa sứ trong sân trường’, là nơi ma thường…trú ẩn (?) mà tôi cũng là tên ‘bắt ma’ dùm cho bạn cả một thời gian…huhuhu,

Phòng chúng tôi liền lạc với phòng của Kim Thoa, Phan Xuân. Bên này một Yến bị…lạnh cóng cẳng vì có tới ba Tuyết kềm kẹp, còn Kim Yến, em của Kim Thoa phòng bên thì lại có mùa xuân, vì có hai bạn tên Xuân ở cùng. Tám đứa tụi tôi cũng hay nói chuyện leo mỗi khi lên giường buổi tối, đứa nào có tin gì vui cũng hay khai…chút chút. Bữa kia P X nhận được một bức thư của một người…lính huấn luyện viên từ quân trường Đ Đ Nha Trang gửi đến, qua sự ‘giới thiệu’ của người cô, thế là tụi tôi có… việc làm, bàn tán phải viết làm sao cho hợp tình hợp cảnh, cho có ‘tình thương mến thương’ của ‘em hậu phương dành cho anh trai tiền tuyến’(sến hết cỡ), và không hiểu uýnh tù tì kiểu gì, cuối cùng thì tôi là người…phụ trách viết thư theo góp ý của cả bọn. Thư đi thư lại đâu được mấy lần gì đó, bữa nọ PX nhận được thư của người cô, bị bà…dũa cho một trận nát nước, rằng thì là bị ông lính phát giác không phải nét chữ của PX, đã than phiền rằng …cháu coi thường ổng, vì thấy thư cho cô có nét chữ khác. Và đây cũng là lần thứ hai, cái tội tôi viết thư dùm, lần trước cho nàng Yến, để ‘trả lời một câu hỏi’ của ông thầy K dưới thư viện về ‘đời tư’ của Yến. Một bữa nàng Yến xuống ghi tên mượn sách, ông bắt gặp chữ viết của Yến không phải là nét chữ trong …tình thư. Ông quạt cho nàng một trận nên thân. Hú ba hồn chín vía, dẹp luôn mục viết thư dùm.Hahaha….


Có một lần nội trú lên cơn sốt ở năm nhị niên, vì có bạn Q lớp nhị 5, đại diện hay lãnh đạo một phong trào gì đó chống lại chính quyền (?). Buổi sáng, họ mặc quần áo toàn màu đen, cả một nhóm đóng quân ngay cửa nội trú, cấm không cho giáo sinh đến lớp học. Nhiều bạn sợ quá chui vô lại phòng, nhưng mấy tụi tôi không muốn mất bài học ngang xương, hôm đó là giờ cộng đồng của Thầy Tháo, nên lén lút đi cửa hậu, xin vào nhà Thầy nơi góc nội trú, hình như nhà thầy Toản (tôi không còn nhớ rõ?), có lối ra cửa sau để đến trường. Và hôm ấy vào lớp học, tụi tui vẫn còn run, đúng là bị ‘trên đe dưới búa’, mà giáo sinh là nạn nhân. Vì bên trường ‘đe’ giáo sinh nào không đi học là bị phạt, và bị ‘búa’ dọa là đứa nào ra cổng sẽ bị…( ?) Chẳng tên nào dám ra lối cổng nên không biết có ai bị gì bữa đó không…?

 

        Nội trú là một nơi chốn xem ra …an toàn nhất cho những nữ giáo sinh sống xa nhà và đang tìm một nghề nghiệp ổn định cho cuộc sống, theo ước muốn của gia đình mà có khi không là của chính đương sự ở thời buổi chiến tranh giặc giã lan tràn trên khắp quê hương. Dù có lúc buồn phiền, hay vui, có nghịch ngợm, phá phách ngầm, cũng chỉ là trong khuôn khổ của tuổi ‘học trò làm cô giáo’. Việc học vẫn là chính yếu, dù bạn có tham gia bất cứ một sinh hoạt nào của trường, có vào ban hợp xướng, để mỗi kỳ văn nghệ phải đi tập khan cổ họng mỗi đêm với sự hướng dẫn của ‘Thầy Phan bá Chức’, nam giáo sinh cùng khóa nhưng bạn rất giỏi về nhạc lý. Dù bạn có tham dự văn nghệ của lớp riêng, có tập dợt mỗi đêm từ hát, múa, đến kịch như tụi tôi, thì không bao giờ bị giờ giấc di chuyển chi phối. Cứ tới giờ là có trưởng ban, trưởng toán gì đó…réo gọi là a la xô cả bọn chạy theo, không sót tên nào. Rồi những bữa cơm nhà bàn, gọi nhau đi chung, ăn xong rồi cả đám thả bộ dưới sân trường, có dịp ‘chuyện vãn’ với nam giáo sinh bên nội trú Nam cũng đang tản bộ…xem hoa như  mình, cũng có vài lúc hát thật to bài ‘Bông cỏ may’ nghịch phá đổi lời,  hoặc rống thật to…‘một đàn sư phạm đi qua….’. Nhờ những sinh hoạt như vậy, mà bạn bè gần gũi nhau, kỷ niệm đong đầy mãi đến khi …tan trường mới…rã đám.

          

        Nhớ lúc đó các bạn có viết ‘lưu bút ngày xanh’, hình như bên nam giáo sinh cũng có ‘luân lưu’ sang bên nữ, bạn nào cũng có một cuốn để làm…kỷ niệm. Nhưng rất tiếc, vì chiến tranh giặc giã và thế sự đổi thay, lưu bút của tôi đã đi vào quá khứ. Riêng bạn Đàm Ái Mỹ, cô bạn hiền lành, cẩn thận, dễ thương, thật mộc mạc chân quê nên được chúng tôi tặng cho ‘mỹ danh Mẹ Việt Nam!’, và đúng với tính cẩn thận đó, bạn đã giữ lại quyển lưu bút năm xưa, nên khi chúng tôi về họp mặt, bạn đã ‘tặng’ lại cho mấy hàng chữ viết năm nào. Với tôi, dù lúc đó viết vội cho bạn địa chỉ nhà mình bằng ngòi bút lông khô khốc, vẫn là một kỷ niệm vô vàn đáng yêu của những ngày…nội trú. Cảm ơn Mẹ Việt Nam Đàm Ái Mỹ của tôi.



Ngày trở lại trường Sư phạm để chọn nơi ra quân gõ đầu trẻ, cá nhân tôi lại không có dịp gặp hết các bạn để nói lời từ giã, để biết các bạn mình sẽ đi dạy nơi đâu, một sự thờ ơ đáng trách.

 Cũng vì trong danh sách ra trường tôi có vị trí…chín nút, được chọn chỗ sớm theo ý muốn, mừng hết…lớn, nên khi cầm được tờ ‘sự vụ lệnh’ trong tay, phóng ngay ra cổng, leo lên xe lam chạy về hướng phi trường, lên máy bay để bay về lại Nha trang cho gia đình mừng mà….quên bạn! Mãi đến hôm đi nhận nhiệm sở tại Ty tiểu học tỉnh KHÁNH HÒA, mới biết được một số bạn cùng về chung Tỉnh với mình như Sương, Châu, Kim Phúc, Yến, Quít, Minh Hợp, Trường….


Ngày kỷ niệm 50 năm ra trường (1971-2021), Cựu Giáo sinh khóa Tám đã có cơ hội gặp lại nhau tại …ngôi trường cũ, để nhìn lại nội trú xưa, nơi có vô vàn kỷ niệm buồn vui khi…xa xứ và sinh hoạt chung với vô số bạn bè, và mỗi bạn lại có kỷ niệm riêng của chính mình, cũng không kém phần …sôi động đáng nhớ. Có thể trường đã thay tên, nhưng đâu đó vẫn đong đầy kỷ niệm!

Người còn, kỷ niệm không bao giờ vơi!

Lê thị Hoài Niệm.

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

 


Con Cò

 

Cò Việt “lặn lội” bờ sông

Gắng tìm thực phẩm phụ chồng nuôi con

Dù cho thân thể hao mòn

Không lời than vãn sắt son một lòng.

Cò Mỹ sống cảnh…thong dong

Dắt con dạo cảnh nước non hữu tình

Dù hoàng hôn hay bình minh

Làm thân cò Mỹ an bình, thảnh thơi (?)

Con người cũng đã chọn nơi

Sống trên nước Mỹ trọn đời ấm no (?).

Vừa sung sướng lại tự do

Hãy sống chân chính xứng cho kiếp người.

LT Hoài Niệm

Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2026

Nhà Văn Trần Việt Hải "review book" Người Đi tìm dĩ vãng" của Lê Thị Hoài Niệm.





Bài của nhà văn , nhà nghiên cứu Trần Việt Hải viết cho tập truyện ngắn "Người đi tìm dĩ vãng "của Hoài Niệm

Dear Katherine Vi Anh,

Anh đang viết book review, nhuận sắc tác phẩm Người Đi Tìm Dĩ Vãng của nhà văn Lê Thị Hoái Niệm. Đây là một Tuyển tập gồm 24 truyện ngắn, sách mang đề tựa truyện ngắn Người Đi Tìm Dĩ Vãng, cốt truyện mô tả chuyện tình giữa 2 nhân vật, thương nhau trong thời chiến, chàng theo học khóa sĩ quan Không quân ở Nha Trang, nàng là học viên khóa Sư Phạm Qui Nhơn, họ yêu nhau trong mối tình ở miền thùy dương cát trắng, sau biến cố mất miền Nam Việt Nam, chàng đi tù Việt Cộng, cha chàng theo CS tập kết ra bắc, nhưng ông không giúp gì được cho chàng. Chàng không đủ điều kiện sang Mỹ theo chương trình HO, vì số năm tháng ở tù không hội đủ, chàng phải sống bằng nghề nấu rượu lậu, trong cảnh chán nản cuộc đời chàng hay say xỉn, xỉn say. Kết quả chàng bị bệnh ung thư gan.

 

Môt khi chọn hành nghề nấu rượu lậu, một vốn … bốn lời, ban đầu thì còn ngần ngừ, e ngạì, nhưng khi đói đầu gối cứ phải bò, ông vẫn phải làm những việc mà mình không hề muốn. Với những chén rượu hằng ngày tự bàn tay của chàng cất rượu ra, lâu dần đã gậm nhấm từng tế bào da thịt, biến chứng do cồn biến dạng từ hình hài lẫn tình cảm, giết chết hẳn một con người oai hùng, hiên ngang một thuở chinh chiến, giết luôn cả phần tương lai còn lại với chứng bịnh ung thư gan. Nguyên nhân do tâm sinh lý đều bịnh hoạn. Chàng ra di. Trút sạch nợ trần gian, như lời nói của ông chủ quán bán bên đường nói:

“….. cũng nên đi sớm cho khoẻ tấm thân…”

 

Còn người đàn bà ngồi trên xe trở về lại thành phố, bên tai vẫn còn nghe văng vẳng tiếng khóc và lời kể lể của người góa phụ vừa khoác áo tang chồng:

"Từ lúc tui dìa làm dợ ổng, tui cứ thấy ổng buồn quài (hoài), nhưng hỏi ổng đâu có nói. Rồi thời cuộc đưa đẩy, ổng ở tù dià, cứ lầm lầm lỳ lỳ. Khi cha con gặp lại nhau, họ cãi nhau quá trời, nói cũng vì ông cha theo cộng sản mà ổng mất hết, sống cũng như chết, làm hại cả một đời mẹ con ổng, mà cuối cùng cũng chẳng được, dù quyền cao chức trọng gì, lại còn nghèo xác nghèo xơ. Hai cha con đã không có gần gũi đến khi cha ổng mất. Còn tài sản thì mấy đứa con riêng của ông cha chiếm hết, vì họ có quyền, nên anh em cũng không thựng (thuận) thảo, tới lui. Tui cứ nghĩ cộng sản dô nên ổng trở dìa làm dân, mất hết, tui đâu biết ổng nói xa nói gần, mãi đến khi gần chết, ổng mới kêu mẹ con tui lại, ổng xin lu (lỗi) đã không làm tròn bổn phận làm chồng, làm cha trong bao nhiêu năm qua, biểu tha lu (lỗi) cho ổng, rầu (rồi) ổng khóc nói hầu (hồi) trước ổng có yêu một ngừ (người), mà tại lý lịch cha ổng, nên ổng để mất ngừ (người) ta…. May mà chị đã dià nhằm ngày đưa đám tang ổng, chắc ổng cũng được ngậm cừ (cười) nơi chín suối… "(hêt)

 

Câu truyện kể về một dĩ vãng u buồn, xót xa do số phận con người, theo nhà thơ Vũ Hoàng Chương cho là "sinh lầm thế kỷ" (theo bài thơ Phương xa), quá bi ai, bi đát. Tác giả Hoài Niệm khéo léo xây dựng cốt truyện dựa vào những dữ kiện thật đã xảy ra trong xã hội ở miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư. Tác giả cho đoạn kết luận mở (open conclusion, conclusion ouverte), kết luận dùng một đoản văn phương ngữ Tuy Hòa, khiến cho độc giả bật cười nhẹ nhàng, một cảm nhận thú vị hóm hỉnh và ý nhị vui tươi dí dỏm, tạo ra yếu tố hài hước tinh tế.

 

Văn hào Nga Maxim Gorky nhận xét về lối văn xuôi, văn chương, người viết văn viết lên những câu chuyện phản ảnh những sinh hoạt xung quanh đời sống. Tôi cho là nhà văn Hoài Niệm là điển hình cho một ngòi bút về tiểu thuyết, hay truyện ngắn xuất sắc, cú pháp vững chắc, bà dùng lối văn viết rõ ràng, mạch lạc dễ hiểu, theo nguyên tắc sư phạm ứng dụng. Bố cục của nhiều câu truyện trong tuyển tập này, dựa theo những chuỗi sự kiện được sắp xếp theo tuần tự hợp lý và vững chắc. Dĩ vãng hay hoài niệm là chui thời gian đã qua, dù khôn nguôi, nhớ hoài cho tôi liên tưởng đến tác phẩm "Đi tìm thời gian đã mất" (Pháp ngữ là À la recherche du temps perdu) là bộ tiểu thuyết kễ về dĩ vãng dã qua, cuốn Tiểu thuyết này được xếp vào trong số 10 cuốn tiểu thuyết được thanh niên Pháp ưa thích nhất trong thế kỷ 20. Tạp chí Time cũng bình chọn Đi tìm thời gian đã mất nằm trong danh sách mười cuốn sách vĩ đại nhất mọi thời đại.

Thêm nữa, tôi liên tưởng tiểu thuyết sự gần gũi giữa tác phẩm Người Đi Tìm Dĩ Vãng của nhà văn Lê Thị Hoài Niệm và cuốn tiểu thuyết Dĩ Vãng Khôn Nguôi của nhà văn Khánh Lan do yếu tố có cùng dĩ vãng 30 tháng Tư năm 1975 của Việt Nam Cộng Hòa.

 

 

Trong tập sách Người Đi Tìm Dĩ Vãng của nhà văn Lê Thị Hoài Niệm có truyện ngắn mang tên là Tâm Sự Barbara. Đây là cốt truyện về con chó mang tên Barbara, Barbara sống trong một gia đình người Mỹ sung sướng, về sau Barbara lạc phận mệnh số, dù Barbara, bị gia chủ cho phẩu thuật triệt sản (sterilization surgery), no more sex impact mây mưa, trường chay mãn kiếp, tu thân tích đức. Rồi Barbara lạc phận vào một gia dình phật giáo Việt Nam, chó Barbara trải qua kiếp văn hóa Việt, nào những thi ca như Thịt cầy mà thiếu lá mơ, như thuyền không bến, như thơ không vần, hay thi ca về em Barbara, như sau:

 

Riềng tươi thịt chó cũng tươi

Lá mơ gói lại chúng cười với nhau

Tu hành ta hãy mau mau

Rót thêm chén rượu trước sau vẹn toàn

....

Lá mơ mọc trước cổng chùa

Khóm riềng hậu viện còn đùa gió thu

Nửa đêm nghe tiếng chó tru

Sáng ra đã thấy thợ tu nướng dồi

 

Anh chỉ ước một thảo nguyên đầy Chó,

Một cánh đồng bát ngát lá mơ xanh

Một dãy sân sau đầy riềng, sả, ớt, hành

Một dòng sông chứa đầy bia với rượu

Ðể nơi ấy tháng ngày anh tu luyện

Xa bụi trần gian đánh chén Barbara,...

 

Bài thơ khác về Barbara.

 

Nghe vẻ nghe ve…

Nghe vè thịt chó

Đứa nào chịu khó

Nấu nước cạo lông

Đứa nào ở không

Đi mua đồ nấu

Đứa nào xấu xấu

Xắt sả nạo dừa

Đứa nào không ưa

Đi ra chỗ khác

Tao làm một lát

Xúm lại mà ăn

Đừng có lăng xăng

Thiên hạ đàm tiếu

Con chó chút xíu

Chín mười thằng ăn

Đừng có xỉa răng

Sau khi ăn chó

Chút thịt dính đó

Ba bữa còn thơm

Xỉa ra ăn cơm

Vẫn còn ngon chán!

Nếu mà có ngán

Rượu đế đưa cay

Vừa đã vừa say

Cao lương không đổi

Thịt chó ăn tối

Mát bụng ngủ ngon

Vợ chồng thêm con

Barbara tình em

Nghe vẻ nghe ve

Nghe vè thịt chó,...

 

 

 

Barbara tinh em

Hỡi em Barbara,

Sống trên đời ăn miếng dồi chó

Chết xuống âm phủ, biết có hay không?

 

Tác giả Hoài Niệm cho em Barbara vào chùa Phật giáo nghe kinh kệ Nhân Quả Luân Hồi ,... Phần lớn người Việt dù có theo hay không theo đạo Phật thì trong thâm tâm vẫn hướng thiện, việc sát sinh hoặc ăn thịt cầy là những điều cấm kỵ. Trong một nghiên cứu về văn hóa học, Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Chương của Viện Đại học Đà Lạt khi bàn về việc ăn thịt cầy và quy luật âm dương ngũ hành đối với sức khỏe con người, ông cho rằng, một mặt, giáo lý Phật giáo cấm sát sinh, một mặt thịt cầy là món ăn nhiều đạm, khi ăn thịt cầy thường phải uống rượu. Nhập vào cơ thể nhiều đạm lại có thêm rượu sẽ tạo nên hưng phấn, khiến con người có những hành vi mây mưa ong bướm, những hoạt động không chuẩn mực chân tâm thánh thiện như ngay trong ngày thường. Trong dân gian thường rất kiêng kỵ ăn thịt cầy, hay thịt chó, tức là con gái Barbara, của bà Hoài Niệm.

Bây giờ hãy xét qua mối tương quan giữa nghiệp báo và sự kiện tái sinh. Luân hồi dựa trên nghiệp (karma) tức hành động có chủ đích. Với chó, một sinh vật có bản năng, nghiệp của nó chủ yếu do chủ nhân và môi trường tạo ra. Một con chó được dạy dỗ tử tế, bảo vệ chủ, giúp đỡ người khác, thì nghiệp lành của nó được tăng cường. Ngược lại, chó được huấn luyện để cắn, giết, sẽ tạo nghiệp ác, dẫn đến kiếp sau khó lên khi đầu thai hóa kiếp.

 

Trong kinh điển Phật giáo Đại Thừa, có câu chuyện về một con chó bị chủ đánh đập, nó chạy đến chân Đức Phật khóc. Đức Phật bảo: “Trong kiếp trước, con gái Barbara là người bóc lột người khác, nên nay rơi vào kiếp chó Barbara để trả nợ. Nhưng vì nó vẫn giữ được lòng trung thành, nên Barbara con gái sẽ được siêu thoát”. Điều này cho thấy nghiệp báo không tuyệt đối, sự hối cải và đức hạnh trong kiép hiện tại vẫn có thể thay đổi vận mệnh tương lai.

Các nhà nghiên cứu tâm lý học và khoa học thần kinh động vật (Researchers in animal psychology and neuroscience) cũng đề cập đến khả năng “tái sinh” dưới góc độ ý thức và trí nhớ. Bác sĩ thú y và nhà hành vi học động vật, Dr. Alexandra Horowitz, trong cuốn “Inside of a Dog”, chỉ ra rằng chó có ký ức cảm xúc mạnh mẽ, trí nhớ lâu dài về con người và nơi sống. Một số người tin rằng, khi một con chó quá trung thành, ký ức và tình cảm của nó có thể “chuyển tiếp” sang một đời người mới, tạo nên cảm giác quen thuộc. Tuy vậy, từ góc độ khoa học, đây chỉ là giả thuyết, không có bằng chứng sinh học. Niềm tin vào luân hồi chủ yếu thuộc về tâm linh và văn hóa. Điều quan trọng là nó tác động tích cực đến hành vi của con người: đối xử tốt hơn với thú cưng, vì có thể họ đang đối xử với một linh hồn từ kiếp trước.

 

Con gái Barbara, của bà Hoài Niệm ở phần kết luận khá thương tâm, u buồn như sau: "Con chó Barbara trong câu chuyện đã già và bịnh nặng không còn sức sống nữa, nên chủ nhà đã nhờ Bác sĩ thú y đến tận nhà, chích một mũi thuốc cho nó nhẹ nhàng ra đi. Và sau đó họ đem con chó đi hoả thiêu... Chỉ có người nuôi chó mới cảm thông nỗi đau khi tiễn con chó cưng Barbara nuôi mười lăm năm dài đã ra đi, không khác gì mất một người thân, nên chuyện khóc tiếc nuối không tránh khỏi.

Adieu Barbara! Farewell Barbara! Sayonara Barbara!

 

Cùng đề tài văn học Barbara của thi hào Pháp Jacques

Prévert (*)

----------------------------------------------------------------------

(*): Jacques Prévert (1900 – 1977) là nhà thơ hiện đại nổi tiếng của Pháp, được công chúng yêu mến bởi ngôn từ bình dị nhưng không kém phần tinh tế. Ông cũng là tác giả gốc của bài hát nổi tiếng Lá Mùa Thu (Autumn Leaves).

Thành Brest là nơi mà nhà thơ gặp cô gái có tên Barbara, nằm ở miền Bắc nước Pháp, là nơi có một căn cứ tàu ngầm của hải quân Đức trong thế chiến thứ hai. Vào những ngày cuối chiến tranh, Brest bị bom đạn san phẳng, chỉ còn lại ba ngôi nhà còn đứng vững. Bài thơ Barbara của Jacques Prevert gợi lên sự ám ảnh về tình yêu, mất mát và ký ức trong bối cảnh thành phố Brest nước Pháp bị phá hủy trong Thế chiến II. Nó kể về câu chuyện tình yêu nồng cháy, bị cắt đứt một cách bi thảm. Lời thơ giản dị mà trữ tình. Barbara có thể là người tình của tác giả, cũng có thể là nhân vật tượng trưng cho tình yêu thời chiến.

Trích doạn thơ Barbara như sau:

 

Barbara hỡi, hãy nhớ

Em đừng quên

Cơn mưa ngoan hiền hạnh phúc đó

Trên khuôn mặt em hân hoan

Trên thành phố bình an

Cơn mưa trên mặt biển

Trên xưởng tàu

Trên con tàu ven đảo Ouessant.

 

Rappelle-toi Barbara

N’oublie pas

Cette pluie sage et heureuse

Sur ton visage heureux

Sur cette ville heureuse

Cette pluie sur la mer

Sur l’arsenal

Sur le bateau d’Ouessant

 

 

Hỡi Barbara

Cuộc chiến tranh xuẩn ngốc xiết bao

Còn em giờ đã ra sao

Dưới trận mưa lửa thép

Dưới trận mưa máu trào

Và người từng siết chặt em trong tay

Tha thiết ngày nào

Hiện sống còn đã mất hay biền biệt âm hao

Hỡi Barbara.

 

Oh Barbara

Quelle connerie la guerre

Qu’es-tu devenue maintenant

Sous cette pluie de fer

De feu d’acier de sang

Et celui qui te serrait dans ses bras

Amoureusement

Est-il mort disparu ou bien encore vivant

Oh Barbara

 

 

Kết luận cả hai Barbara của Lê Thị Hoài Niệm, hay Barbara của Jacques Prévert đều cảm động và bi ai nổi lòng ở kết cuộc mang nhân bản tính. Xin cám ơn cả hai Barbara của Lê Thị Hoài Niệm, hay Barbara của Jacques Prévert trong văn học khai phóng nhân ái của con người.