Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2026

Nhà Văn Trần Việt Hải "review book" Người Đi tìm dĩ vãng" của Lê Thị Hoài Niệm.





Bài của nhà văn , nhà nghiên cứu Trần Việt Hải viết cho tập truyện ngắn "Người đi tìm dĩ vãng "của Hoài Niệm

Dear Katherine Vi Anh,

Anh đang viết book review, nhuận sắc tác phẩm Người Đi Tìm Dĩ Vãng của nhà văn Lê Thị Hoái Niệm. Đây là một Tuyển tập gồm 24 truyện ngắn, sách mang đề tựa truyện ngắn Người Đi Tìm Dĩ Vãng, cốt truyện mô tả chuyện tình giữa 2 nhân vật, thương nhau trong thời chiến, chàng theo học khóa sĩ quan Không quân ở Nha Trang, nàng là học viên khóa Sư Phạm Qui Nhơn, họ yêu nhau trong mối tình ở miền thùy dương cát trắng, sau biến cố mất miền Nam Việt Nam, chàng đi tù Việt Cộng, cha chàng theo CS tập kết ra bắc, nhưng ông không giúp gì được cho chàng. Chàng không đủ điều kiện sang Mỹ theo chương trình HO, vì số năm tháng ở tù không hội đủ, chàng phải sống bằng nghề nấu rượu lậu, trong cảnh chán nản cuộc đời chàng hay say xỉn, xỉn say. Kết quả chàng bị bệnh ung thư gan.

 

Môt khi chọn hành nghề nấu rượu lậu, một vốn … bốn lời, ban đầu thì còn ngần ngừ, e ngạì, nhưng khi đói đầu gối cứ phải bò, ông vẫn phải làm những việc mà mình không hề muốn. Với những chén rượu hằng ngày tự bàn tay của chàng cất rượu ra, lâu dần đã gậm nhấm từng tế bào da thịt, biến chứng do cồn biến dạng từ hình hài lẫn tình cảm, giết chết hẳn một con người oai hùng, hiên ngang một thuở chinh chiến, giết luôn cả phần tương lai còn lại với chứng bịnh ung thư gan. Nguyên nhân do tâm sinh lý đều bịnh hoạn. Chàng ra di. Trút sạch nợ trần gian, như lời nói của ông chủ quán bán bên đường nói:

“….. cũng nên đi sớm cho khoẻ tấm thân…”

 

Còn người đàn bà ngồi trên xe trở về lại thành phố, bên tai vẫn còn nghe văng vẳng tiếng khóc và lời kể lể của người góa phụ vừa khoác áo tang chồng:

"Từ lúc tui dìa làm dợ ổng, tui cứ thấy ổng buồn quài (hoài), nhưng hỏi ổng đâu có nói. Rồi thời cuộc đưa đẩy, ổng ở tù dià, cứ lầm lầm lỳ lỳ. Khi cha con gặp lại nhau, họ cãi nhau quá trời, nói cũng vì ông cha theo cộng sản mà ổng mất hết, sống cũng như chết, làm hại cả một đời mẹ con ổng, mà cuối cùng cũng chẳng được, dù quyền cao chức trọng gì, lại còn nghèo xác nghèo xơ. Hai cha con đã không có gần gũi đến khi cha ổng mất. Còn tài sản thì mấy đứa con riêng của ông cha chiếm hết, vì họ có quyền, nên anh em cũng không thựng (thuận) thảo, tới lui. Tui cứ nghĩ cộng sản dô nên ổng trở dìa làm dân, mất hết, tui đâu biết ổng nói xa nói gần, mãi đến khi gần chết, ổng mới kêu mẹ con tui lại, ổng xin lu (lỗi) đã không làm tròn bổn phận làm chồng, làm cha trong bao nhiêu năm qua, biểu tha lu (lỗi) cho ổng, rầu (rồi) ổng khóc nói hầu (hồi) trước ổng có yêu một ngừ (người), mà tại lý lịch cha ổng, nên ổng để mất ngừ (người) ta…. May mà chị đã dià nhằm ngày đưa đám tang ổng, chắc ổng cũng được ngậm cừ (cười) nơi chín suối… "(hêt)

 

Câu truyện kể về một dĩ vãng u buồn, xót xa do số phận con người, theo nhà thơ Vũ Hoàng Chương cho là "sinh lầm thế kỷ" (theo bài thơ Phương xa), quá bi ai, bi đát. Tác giả Hoài Niệm khéo léo xây dựng cốt truyện dựa vào những dữ kiện thật đã xảy ra trong xã hội ở miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư. Tác giả cho đoạn kết luận mở (open conclusion, conclusion ouverte), kết luận dùng một đoản văn phương ngữ Tuy Hòa, khiến cho độc giả bật cười nhẹ nhàng, một cảm nhận thú vị hóm hỉnh và ý nhị vui tươi dí dỏm, tạo ra yếu tố hài hước tinh tế.

 

Văn hào Nga Maxim Gorky nhận xét về lối văn xuôi, văn chương, người viết văn viết lên những câu chuyện phản ảnh những sinh hoạt xung quanh đời sống. Tôi cho là nhà văn Hoài Niệm là điển hình cho một ngòi bút về tiểu thuyết, hay truyện ngắn xuất sắc, cú pháp vững chắc, bà dùng lối văn viết rõ ràng, mạch lạc dễ hiểu, theo nguyên tắc sư phạm ứng dụng. Bố cục của nhiều câu truyện trong tuyển tập này, dựa theo những chuỗi sự kiện được sắp xếp theo tuần tự hợp lý và vững chắc. Dĩ vãng hay hoài niệm là chui thời gian đã qua, dù khôn nguôi, nhớ hoài cho tôi liên tưởng đến tác phẩm "Đi tìm thời gian đã mất" (Pháp ngữ là À la recherche du temps perdu) là bộ tiểu thuyết kễ về dĩ vãng dã qua, cuốn Tiểu thuyết này được xếp vào trong số 10 cuốn tiểu thuyết được thanh niên Pháp ưa thích nhất trong thế kỷ 20. Tạp chí Time cũng bình chọn Đi tìm thời gian đã mất nằm trong danh sách mười cuốn sách vĩ đại nhất mọi thời đại.

Thêm nữa, tôi liên tưởng tiểu thuyết sự gần gũi giữa tác phẩm Người Đi Tìm Dĩ Vãng của nhà văn Lê Thị Hoài Niệm và cuốn tiểu thuyết Dĩ Vãng Khôn Nguôi của nhà văn Khánh Lan do yếu tố có cùng dĩ vãng 30 tháng Tư năm 1975 của Việt Nam Cộng Hòa.

 

 

Trong tập sách Người Đi Tìm Dĩ Vãng của nhà văn Lê Thị Hoài Niệm có truyện ngắn mang tên là Tâm Sự Barbara. Đây là cốt truyện về con chó mang tên Barbara, Barbara sống trong một gia đình người Mỹ sung sướng, về sau Barbara lạc phận mệnh số, dù Barbara, bị gia chủ cho phẩu thuật triệt sản (sterilization surgery), no more sex impact mây mưa, trường chay mãn kiếp, tu thân tích đức. Rồi Barbara lạc phận vào một gia dình phật giáo Việt Nam, chó Barbara trải qua kiếp văn hóa Việt, nào những thi ca như Thịt cầy mà thiếu lá mơ, như thuyền không bến, như thơ không vần, hay thi ca về em Barbara, như sau:

 

Riềng tươi thịt chó cũng tươi

Lá mơ gói lại chúng cười với nhau

Tu hành ta hãy mau mau

Rót thêm chén rượu trước sau vẹn toàn

....

Lá mơ mọc trước cổng chùa

Khóm riềng hậu viện còn đùa gió thu

Nửa đêm nghe tiếng chó tru

Sáng ra đã thấy thợ tu nướng dồi

 

Anh chỉ ước một thảo nguyên đầy Chó,

Một cánh đồng bát ngát lá mơ xanh

Một dãy sân sau đầy riềng, sả, ớt, hành

Một dòng sông chứa đầy bia với rượu

Ðể nơi ấy tháng ngày anh tu luyện

Xa bụi trần gian đánh chén Barbara,...

 

Bài thơ khác về Barbara.

 

Nghe vẻ nghe ve…

Nghe vè thịt chó

Đứa nào chịu khó

Nấu nước cạo lông

Đứa nào ở không

Đi mua đồ nấu

Đứa nào xấu xấu

Xắt sả nạo dừa

Đứa nào không ưa

Đi ra chỗ khác

Tao làm một lát

Xúm lại mà ăn

Đừng có lăng xăng

Thiên hạ đàm tiếu

Con chó chút xíu

Chín mười thằng ăn

Đừng có xỉa răng

Sau khi ăn chó

Chút thịt dính đó

Ba bữa còn thơm

Xỉa ra ăn cơm

Vẫn còn ngon chán!

Nếu mà có ngán

Rượu đế đưa cay

Vừa đã vừa say

Cao lương không đổi

Thịt chó ăn tối

Mát bụng ngủ ngon

Vợ chồng thêm con

Barbara tình em

Nghe vẻ nghe ve

Nghe vè thịt chó,...

 

 

 

Barbara tinh em

Hỡi em Barbara,

Sống trên đời ăn miếng dồi chó

Chết xuống âm phủ, biết có hay không?

 

Tác giả Hoài Niệm cho em Barbara vào chùa Phật giáo nghe kinh kệ Nhân Quả Luân Hồi ,... Phần lớn người Việt dù có theo hay không theo đạo Phật thì trong thâm tâm vẫn hướng thiện, việc sát sinh hoặc ăn thịt cầy là những điều cấm kỵ. Trong một nghiên cứu về văn hóa học, Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Chương của Viện Đại học Đà Lạt khi bàn về việc ăn thịt cầy và quy luật âm dương ngũ hành đối với sức khỏe con người, ông cho rằng, một mặt, giáo lý Phật giáo cấm sát sinh, một mặt thịt cầy là món ăn nhiều đạm, khi ăn thịt cầy thường phải uống rượu. Nhập vào cơ thể nhiều đạm lại có thêm rượu sẽ tạo nên hưng phấn, khiến con người có những hành vi mây mưa ong bướm, những hoạt động không chuẩn mực chân tâm thánh thiện như ngay trong ngày thường. Trong dân gian thường rất kiêng kỵ ăn thịt cầy, hay thịt chó, tức là con gái Barbara, của bà Hoài Niệm.

Bây giờ hãy xét qua mối tương quan giữa nghiệp báo và sự kiện tái sinh. Luân hồi dựa trên nghiệp (karma) tức hành động có chủ đích. Với chó, một sinh vật có bản năng, nghiệp của nó chủ yếu do chủ nhân và môi trường tạo ra. Một con chó được dạy dỗ tử tế, bảo vệ chủ, giúp đỡ người khác, thì nghiệp lành của nó được tăng cường. Ngược lại, chó được huấn luyện để cắn, giết, sẽ tạo nghiệp ác, dẫn đến kiếp sau khó lên khi đầu thai hóa kiếp.

 

Trong kinh điển Phật giáo Đại Thừa, có câu chuyện về một con chó bị chủ đánh đập, nó chạy đến chân Đức Phật khóc. Đức Phật bảo: “Trong kiếp trước, con gái Barbara là người bóc lột người khác, nên nay rơi vào kiếp chó Barbara để trả nợ. Nhưng vì nó vẫn giữ được lòng trung thành, nên Barbara con gái sẽ được siêu thoát”. Điều này cho thấy nghiệp báo không tuyệt đối, sự hối cải và đức hạnh trong kiép hiện tại vẫn có thể thay đổi vận mệnh tương lai.

Các nhà nghiên cứu tâm lý học và khoa học thần kinh động vật (Researchers in animal psychology and neuroscience) cũng đề cập đến khả năng “tái sinh” dưới góc độ ý thức và trí nhớ. Bác sĩ thú y và nhà hành vi học động vật, Dr. Alexandra Horowitz, trong cuốn “Inside of a Dog”, chỉ ra rằng chó có ký ức cảm xúc mạnh mẽ, trí nhớ lâu dài về con người và nơi sống. Một số người tin rằng, khi một con chó quá trung thành, ký ức và tình cảm của nó có thể “chuyển tiếp” sang một đời người mới, tạo nên cảm giác quen thuộc. Tuy vậy, từ góc độ khoa học, đây chỉ là giả thuyết, không có bằng chứng sinh học. Niềm tin vào luân hồi chủ yếu thuộc về tâm linh và văn hóa. Điều quan trọng là nó tác động tích cực đến hành vi của con người: đối xử tốt hơn với thú cưng, vì có thể họ đang đối xử với một linh hồn từ kiếp trước.

 

Con gái Barbara, của bà Hoài Niệm ở phần kết luận khá thương tâm, u buồn như sau: "Con chó Barbara trong câu chuyện đã già và bịnh nặng không còn sức sống nữa, nên chủ nhà đã nhờ Bác sĩ thú y đến tận nhà, chích một mũi thuốc cho nó nhẹ nhàng ra đi. Và sau đó họ đem con chó đi hoả thiêu... Chỉ có người nuôi chó mới cảm thông nỗi đau khi tiễn con chó cưng Barbara nuôi mười lăm năm dài đã ra đi, không khác gì mất một người thân, nên chuyện khóc tiếc nuối không tránh khỏi.

Adieu Barbara! Farewell Barbara! Sayonara Barbara!

 

Cùng đề tài văn học Barbara của thi hào Pháp Jacques

Prévert (*)

----------------------------------------------------------------------

(*): Jacques Prévert (1900 – 1977) là nhà thơ hiện đại nổi tiếng của Pháp, được công chúng yêu mến bởi ngôn từ bình dị nhưng không kém phần tinh tế. Ông cũng là tác giả gốc của bài hát nổi tiếng Lá Mùa Thu (Autumn Leaves).

Thành Brest là nơi mà nhà thơ gặp cô gái có tên Barbara, nằm ở miền Bắc nước Pháp, là nơi có một căn cứ tàu ngầm của hải quân Đức trong thế chiến thứ hai. Vào những ngày cuối chiến tranh, Brest bị bom đạn san phẳng, chỉ còn lại ba ngôi nhà còn đứng vững. Bài thơ Barbara của Jacques Prevert gợi lên sự ám ảnh về tình yêu, mất mát và ký ức trong bối cảnh thành phố Brest nước Pháp bị phá hủy trong Thế chiến II. Nó kể về câu chuyện tình yêu nồng cháy, bị cắt đứt một cách bi thảm. Lời thơ giản dị mà trữ tình. Barbara có thể là người tình của tác giả, cũng có thể là nhân vật tượng trưng cho tình yêu thời chiến.

Trích doạn thơ Barbara như sau:

 

Barbara hỡi, hãy nhớ

Em đừng quên

Cơn mưa ngoan hiền hạnh phúc đó

Trên khuôn mặt em hân hoan

Trên thành phố bình an

Cơn mưa trên mặt biển

Trên xưởng tàu

Trên con tàu ven đảo Ouessant.

 

Rappelle-toi Barbara

N’oublie pas

Cette pluie sage et heureuse

Sur ton visage heureux

Sur cette ville heureuse

Cette pluie sur la mer

Sur l’arsenal

Sur le bateau d’Ouessant

 

 

Hỡi Barbara

Cuộc chiến tranh xuẩn ngốc xiết bao

Còn em giờ đã ra sao

Dưới trận mưa lửa thép

Dưới trận mưa máu trào

Và người từng siết chặt em trong tay

Tha thiết ngày nào

Hiện sống còn đã mất hay biền biệt âm hao

Hỡi Barbara.

 

Oh Barbara

Quelle connerie la guerre

Qu’es-tu devenue maintenant

Sous cette pluie de fer

De feu d’acier de sang

Et celui qui te serrait dans ses bras

Amoureusement

Est-il mort disparu ou bien encore vivant

Oh Barbara

 

 

Kết luận cả hai Barbara của Lê Thị Hoài Niệm, hay Barbara của Jacques Prévert đều cảm động và bi ai nổi lòng ở kết cuộc mang nhân bản tính. Xin cám ơn cả hai Barbara của Lê Thị Hoài Niệm, hay Barbara của Jacques Prévert trong văn học khai phóng nhân ái của con người. 

 Một nén hương cầu nguyện cho Linh Hồn anh Lê Phi Ô sớm về cõi vĩnh hằng

Gửi lại bài thơ ngày tôi viết cho người Lính Địa Phương Quân. Anh LPO đọc xong, rất "cảm động" và viết gửi lại tôi"tâm tình" của anh. Và sau đó tôi viết tặng anh bài thơ buồn...gia cảnh.

Tôi  gặp Anh Người Lính ĐPQ

Lê thị Hoài Niệm  


Tôi gặp Anh khi tuổi còn rất nhỏ

Toán Lính về làng để bình định an dân.

Anh hiên ngang cùng đi giữa đoàn quân

Rồi tiến thẳng vào sân nhà tôi ngồi nghỉ

 

Nón sắt, ba lô, Poncho và vũ khí

Các anh vui cười, lễ phép hỏi ba tôi:

“Bác cho chúng con mượn tạm mảnh sân thôi

 Đêm nay nghỉ mai đi hành quân tiếp”.

 

Tôi gặp Anh một chiều vàng rất đẹp      

Tuổi trăng non chưa hề biết mộng mơ

Học trường xa ngày nghỉ mới trở về

Con đường vắng chốt lính canh xuất hiện

 

Anh chận tôi: “Giờ này về bất tiện

Giặc về làng quậy phá tối hôm qua

Đơn vị Anh quần thảo đến canh ba

Giặc rút chạy, toán quân nhà vô sự”

 

Tôi gặp Anh, tuổi xuân thì thiếu nữ

Rất bình thường không mơ mộng, kiêu sa 

Tan trường về biết mong ngóng Người ta

Rồi tự nhủ: chắc đang hành quân gấp đó!

 

Anh quân nhân không mũ xanh, mũ đỏ

Không hoa dù, cũng chẳng thiết vận xa

Không lênh đênh lấy biển cả làm nhà

Không bay bổng giữa trời cao gió lộng 

 

Anh người Lính: Niềm tin và Hy vọng

Ngăn giặc thù giữ thôn xóm bình an

Ngày hành quân ven biên giới Tỉnh-Làng

Đêm đi kích cũng ruộng hoang, gò mả.

 

Địa phương quân! Lính con Rùa nhưng vất vả

Sống giữa lòng dân mà nguy hiểm bội phần 

Đang nói cười, lựu đạn nổ thây phân 

Đường sinh tử đếm thời gian tích tắc

 

Quán cà phê có thể là trạm giặc   

Thằng bé qua đường có thể “giao liên”  

 Cô bé xinh xinh trông rất nhu hiền  

 Nào ai biết là “đặc công Cộng sản"?

 

Tôi gặp Anh trong dòng người hỗn loạn

Thấp thỏm chờ tàu vận chuyển xuôi nam

Cuộc di tản như triệt cả đoàn quân      

Vùi chí  khí, nén đau buồn "thúc thủ".

 

Tôi gặp Anh giữa chợ trời lam lũ

Tấm thân gầy phủ mảnh áo vá vai

Áo rách vá, làm sao vá đời trai

Bị tơi tả sau tháng ngày nghiệt ngã?

 

Tôi gặp Anh đang mong manh hơi thở  

Thân phận con người trăn trở giựt giành 

Cuộc chiến sau cùng đã định sẵn lằn ranh.

Nhưng Người Lính đó vẫn trong tôi mãi mãi.

Lê Thị Hoài Niệm.

     
Chị Hoài-Niệm mến ! Thưa Chị, thật kinh ngạc khi đọc những dòng thơ Chị viết về người Lính ĐPQ...Chị rành về họ hơn hẳn những người lính bên Chủ-lực Quân làm tôi nghĩ: Chị phải là người Lính ĐPQ thật sự thì Chị mới biết chính xác như vậy ! Rồi dòng đời nổi trôi theo vận nước...ngày về người lính tang thương như thế đó, đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu sức mạnh nào đã làm tôi tồn tại được đến hôm nay...! Thơ Chị gợi nhớ trong tôi thật nhiều về người lính ĐPQ trong chiến tranh và "hòa bình ?!" trở về trên quê hương. Nghe đến Chị đã lâu, bây giờ đọc Thơ Chị lòng cảm phục và quí mến càng nhân lên gấp bội ! Chúc Chị vạn niềm vui

Xin gởi Chị Hoài-Niệm bài Thơ của Chị, tôi nhờ anh Bạn Nguyễn-đình-Cai design giùm. Thật sự bài Thơ không riêng gì tôi mà các bạn ĐPQ của tôi bị xúc động mạnh ! Cả vùng trời kỷ niệm của quá khứ trở về. Xin thay mặt anh em ĐPQ cám ơn Chị thật nhiều ! LêphiÔ

 

Cám ơn nàng thơ Hoài Niệm. Bài "văn vần" của Hoài Niệm hay và cảm động quá HN ơi!!! T. Ng đọc mà thấy lòng rưng rưng hơn cả khi được thưởng thức một bài thơ tình lãng mạn...(tấm lòng của cô bé mới đáng quý dường bao!!!)TN nghĩ có lẽ những "người lính con Rùa" mà đọc được bài thơ này thì hết thảy sẽ chỉ muốn gửi đến "cô bé ngày xưa" ngàn đóa hoa hồng thắm tươi (như đóa hồng rất đẹp trong hình) đấy, nàng thơ ơi!!!                                                         

TN xin phép được fw đến tất cả những người chiến sĩ VNCH nhân mùa"Tháng tư đen"...HN nhé!


ƯỚC GÌ MẸ VẪN BÊN CON

Lê thị hoài niệm viết cho người Lính…Lê Phi..

 

Trời trong vắng gió, nóng ran

Quì bên mộ Mẹ hai hàng lệ rơi

Tình con không viết nên lời

Cầu Hương Linh Mẹ về nơi vĩnh hằng

 

Mẹ ơi! nguồn lệ khó ngăn

Khi nhìn ảnh Mẹ của thằng con xa

Quanh con đất trời bao la

Nghĩa trang quạnh vắng lời ca chim buồn

 

Ước gì có thể gọi hồn

Mẹ nghe con khấn bên thềm mộ xưa

Mẹ thương con nói sao vừa

Bao năm cực khổ nắng mưa dãi dầu

 

Mẹ bệnh khi con mẹ đau

Mẹ buồn khi biết tình đầu con tan

Mẹ vui khi thấy con ngoan

Mẹ cười mà nước mắt tràn ướt mi

 

Cực khổ suốt quãng xuân thì

Từ bình minh rạng đến khi chiều vàng

Qua bao năm tháng nhọc nhằn

Gánh hàng ra chợ cứ oằn đôi vai

 

Thân gầy vác nặng cả hai

Vừa lo công việc- vừa Thầy bảo ban

Đêm buồn dưới ánh trăng tan

Mẹ ngồi khấn nguyện an toàn cho Cha

 

Người đang làm Lính đồn xa

Thỉnh thoảng mới thấy về qua thăm nhà

Nghĩa Mẹ lớn, Tình bao la

Thay Cha nuôi dạy con đà lớn khôn

 

Rồi con lo việc nước non

Một thân Mẹ lại héo hon đợi chờ

Con đi, đi mãi chưa về

Đến khi trở lại bàn thờ nến chong

 

Mẹ ơi! con đứt đoạn lòng

Khói nhang đâu dễ ướt tròng mắt sâu

Tiếng nấc lẫn tiếng nguyện cầu

Mẹ ơi con Mẹ gục đầu chịu tang

 

Cũng bởi vận nước điêu tàn

Phận con của Mẹ "vết hằn" tù giam

Xuân qua Đông lại rét căm

"Kẻ thù" hành hạ bao năm héo mòn....

 

Ước gì Mẹ vẫn bên con

Để con phụng dưỡng hiếu thân trọn bề.

Cúi đầu lạy Mẹ con về

Cố công thực hiện giấc mơ chưa tròn....

 

Lê Thị Hoài Niệm