Thứ Tư, 11 tháng 5, 2011

NGUYỄN HUỆ - HOUSTON

Đã qua lâu thật lâu rồi những ngày tháng tung tăng cắp sách đến trường, nhất là ngôi trường trung học đầu tiên- trường Nguyễn Huệ tại Tuy Hoà, nơi đó , những người bạn nhỏ thân thương dù cùng ngồi trong một phòng học , hay khác lớp....Vẫn là những kỷ niệm mỗi khi có người nhắc đến và có dịp gặp lại nhau.

Và trong những ngày đầu của tháng năm/2011,khi Thầy Hiệu Trưởng năm nào-Thầy Nguyễn đức Giang , có dịp ghé qua Houston từ một quốc gia Đông âu xa thẳm: Đan Mạch.thế là những người học trò cũ năm nào , dù vào ra không cùng niên khoá, có người đến khi Thầy đã đi về trường khác, nhưng Thầy Hiệu thì vẫn là Thầy Hiệu. Một buổi họp mặt gia đình Nguyễn Huệ, tuy đơn sơ nhưng thắm đượm tình nghiã Thầy -bạn một thời.





Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

DỤC MỸ-TÌM TRONG KỶ NIỆM

Có một lần tôi ghé qua nơi đó, nhưng nhìn đi ngắm lại chẳng biết đâu là đâu, thành phố xưa giờ thay đổi quá nhiều, hỏi thăm người chung quanh, ai cũng quây quẩy lắc đầu, tìm kiếm lại ngõ xưa thì con đường xưa đà mất lối, cứ ví như mình là ..Từ Thức lạc thiên thai, đi bao nhiêu năm trở về thăm chốn cũ, dấu xưa đà thay đổi và người xưa cũng đã biền biệt phương nào, chỉ còn chăng là những kỷ niệm rớt rơi và phải lục tìm từ ký ức, một thời gắn bó với đường về Dục Mỹ năm nào….

Vẫn là những chiếc xe Honda 50 phân khối, phương tiện di chuyển tiêu biểu thời bấy giờ, những tiếng nổ rầm rì rồi ngừng hẳn trong sân trường tiểu học PA, vẫn luôn gây sự chú ý của đám học trò nhỏ chốn quê. Chúng nhìn ra cửa và nhao nhao gọi cô ơi cô hỡi có mấy người Lính đến tìm cô giáo kìa. Ừ thì cô đã thấy rồi mà, cứ để họ đứng đó
chờ cô, mình vẫn phải làm xong bài tập trước đã.


Thầy hiệu trưởng trường tôi, vẫn “than phiền trong vui vẻ” rằng trường mình sao có quá nhiều người Lính đến viếng thăm, mà người đến hôm nay không giống người hôm trước. Thầy vui, vì ít ra các cô giáo dạy ở trường này, cũng là “điểm nóng” để các người hùng lui tới và tăng thêm không khí vui vẻ trong sân trường.
Họ đến từ trung tâm huấn luyện Lam Sơn, trên lối về DỤC MỸ.


Từ lúc rời trường sĩ quan bộ binh Thủ đức, người anh trai tôi đã được bổ nhiệm về làm Huấn luyện viên khoa Chiến thuật tại trung tâm huấn luyện Lam Sơn, và từ nơi anh tôi, những người Sĩ quan huấn luyện bạn của anh, đủ các bộ môn truyền dạy cho Lính, trong những buổi không có giờ lên lớp, chẳng lẽ ngồi bó gối trong cư xá sĩ quan buồn heo hắt, nhìn chung quanh chỉ có thấy núi đồi, họ đã …đổ dốc từ Dục Mỹ xuống Ninh Hoà, vừa nhìn phong cảnh, vừa ghé vào những tiệm nem nướng nổi tiếng ở Ninh Hoà, và thôi thì một công ba bốn việc, ghé vào trường PA. …thăm viếng cô giáo làng em của bạn, gọi là chút tình …quân dân cá nước.


Vẫn là những lời nói đùa từ những người Lính may mắn mang chữ Thọ trước trán, trừ khi nào quân trường bị …pháo kích thì mới bị xui, và xui tận mạng mới bị phủi chân lên bàn thờ ngồi hưởng khói nhang . Còn thì họ cứ làm công việc đều đặn hằng ngày dẫn lính đi tập huấn ngoài bãi tập, và những lúc rỗi rảnh thì tìm người …tán gẫu cho qua ngày đoạn tháng.

Rồi một hôm, tôi đã là vị khách phương xa độc nhất trong một buổi tiệc sinh nhật đứa con gái đầu lòng của vị sĩ quan ở TTHL Lam sơn: Trung úy T và Hương, cô gái gốc Hà dừa, bên đường rầy xe lửa, nhưng có một lần ghé qua Ninh Hoà, đã tình cờ gặp chàng Thiếu úy Đại đội trưởng Khoá sinh đang …la cà trong mấy quán nước, và mối tình “tình cờ” đó đã cho ra đời đứa bé kháu khỉnh, dễ thương, hôm nay là sinh nhật cháu...


Đường về Dục Mỹ lần đầu tiên tôi đến sau buổi dạy sáng . Từ ngả ba Ninh Hoà, nơi có “căn nhà có mái ngói đỏ” của nhà văn nổi tiếng Nha Trang: N.X.H, căn nhà đã một vài lần, tôi và cô giáo Trường đến đó “năn nỉ” cô Mười Lớn- nhà có đến ba người thứ mười, nên phải xếp theo thứ tự lớn nhỏ- cho hai đứa một căn phòng đang còn trống, để hai cô giáo tá túc trong những ngày dạy học ở Ninh hoà ( nhưng cũng xa trường học, nên không đến ở) .Từ đó cứ nhìn về hướng Tây thẳng tiến, chiếc xe …jeep nhà binh mấy lần lên dồi xuống dốc, có lúc ngoằn ngoèo trên con đường nhựa mà hai bên đường là những rừng cây xanh mát mắt, nhìn vượt xa tầm mắt là những đồi núi chập chùng nhưng là quãng đường yên bình nhất thời bấy giờ khi mà hai bên đường cây xanh trùng điệp ( thường là chỗ trú ẩn của những tên VC chuyên đặt mìn khủng bố)


Căn nhà thuê của vợ chồng anh Tr/uý T. và Hương nằm cạnh một dòng suối nhỏ đằng sau cây cầu gỗ từ đường chính đi vào. Đúng là tổ uyên ương của những người làm …Lính! Căn nhà nhỏ xíu xiu, nhưng cũng thơ mộng vô cùng. Mái hiên sau nhà, mấy người bạn Lính đến làm thêm cái sàn gỗ, ngồi nhìn xuống dòng suối với con nước nhẹ nhàng trôi mùa khô, và hình như cũng ào ào mùa lụt thì phải. Nhưng hôm đó cả nhóm người chen chúc nhau trong căn nhà cũng làm ấm lòng gia chủ. Với tiếng đàn guitar classic của chàng Tr/u Hạt, lúc bổng lúc trầm du dương réo rắt bản nhạc Suối mơ, hay Thiên thai, Hoài Cảm giữa một khung cảnh thơ mộng hữu tình có núi có suối có rừng cây xanh mát mắt, làm những người hiện diện thấy cuộc đời đẹp đẽ, đáng yêu. Thế là họ cùng nhau hợp ca bản “Tiếng sáo thiên thai”, lời ca có lúc quên lúc nhớ, tiếng được tiếng còn, có lúc cứ… ừ ư ư ứ ứ ( tình tang ôi tiếng sáo), rồi thì “Không bao giờ ngăn cách, Anh không chết đâu em, Vườn tao ngộ…” những bản nhạc dành cho Lính đang thịnh hành lúc bấy giờ, được hoà quyện vào nhau bằng những tiếng hát của những người đang mặc quần áo Lính, những giọng ca cũng thật truyền cảm, điêu luyện của Tr/u Ph., của Đ/u H…., hoà nên một ban nhạc bỏ túi vô cùng sôi động, vui tươi, giữa buổi xế trưa của tháng mười một, không khí bên ngoài dịu nhẹ với làn gió núi hiu hiu thổi …đáng nhớ đời!


Khi mặt trời chếch bóng, một cuộc đi “săn cá” bắt đầu. Tôi được đèo sau chiếc xe Honda của anh Tr/u Ph. Đường vào rừng, nhưng đoàn xe đến hơn nửa tá đèo nhau, lèn qua lách lại giữa đám cây rừng, nhưng hình như không người Lính nào lạ lẫm với địa hình địa vật, nơi đây là Bãi tập của những đơn vị lính mà.Và một dòng suối lớn hiện ra trước mắt, một trái lựu đạn quăng xuống từ tay anh H. sĩ quan huấn luyện môn “Vũ Khí”, nổ cái….bùm! Tiếng nổ có làm tôi giật mình, nhưng sau đó một lô cá từ từ nổi trên mặt nước trắng xoá. Cá là cá, thế là mấy ông sĩ quan huấn luyện viên tha hồ lấy vợt bắt cá. Một bữa tiệc thật là thịnh soạn do bàn tay của những người từng cầm súng bây giờ làm cá đãi đằng…. cô giáo khách.


Không biết bao nhiêu lần tôi bước lại trên lối về Dục Mỹ. Những người Lính lúc này không muốn ở trong cư xá Sĩ quan, vì …buồn lắm! Anh tôi bảo thế, nên họ ra chợ thuê nhà mà ở, dù sao sau những giờ ở trong rừng với những người mặc quân phục, ra khỏi rừng nhìn người …phố thị , có chút đổi thay cái nhìn , khiến nguời còn thấy niềm vui. Khu phố Dục Mỹ lúc bấy giờ cũng nhỏ xíu xìu xiu, nhưng rộn rịp, náo nhiệt vô cùng. Khu chợ cũng buôn bán tấp nập, nhưng hình như chỉ có buổi sáng. Phố chợ đủ hạng người đi, đủ màu áo Lính, nào là Lính Pháo Binh, Lính Sư đoàn về thụ huấn, Lính từ trung tâm huấn luyện Lam Sơn, và cả những người Lính dạy ở trường quân đội. Người dân Dục Mỹ cũng rất hiền hoà và hiếu khách, có hôm tôi cũng lang thang ngoài chợ làm người khách lạ đến mua hàng, vậy mà những người bán hàng cũng nhận ra.
Ở nơi đó tôi đã gặp cô H., cô gái con chủ nhà cho …Lính thuê ở tạm. Thường thì chỉ là những căn phòng nhỏ, nhưng cũng đủ chỗ cho những người Lính để những cái giường nhà binh và một căn bếp nhỏ. Nhà H. có đến mấy chị em đều xinh, và cũng là …điểm đến của những người Sĩ quan độc thân lúc bấy giờ, dù rằng họ chỉ độc thân tại chỗ. Nhà H lại phụ trách nấu cơm tháng cho những người Lính xa nhà, xa bàn tay …săn sóc của người thân, nên họ dễ dàng quyến luyến nhau, dù rằng Ông nào lại chẳng có người yêu ở thành phố? Và anh trai tôi cũng trong số người đó.


Cô M. , cô gái lai Tàu rất xinh, có sạp bán hàng tạp hoá ngoài chợ, vẫn là vị khách được mời thêm mỗi khi “ban nhạc tạp lục” của quí anh quây quần trình diễn hát tặng cô giáo khách. Bỗng dưng một hôm chạy xuống Ninh Hoà chở tôi lên Dục Mỹ sau giờ dạy. Chuyện gì đã xảy ra mà cần có sự dàn xếp của tôi cho… thuyền tình về bến đỗ. Thì ra mấy người có máu Hoạn Thư trong huyết quản , chẳng là vì hôm trước, tôi có đưa mấy cô bạn từ Nha trang lên Dục Mỹ thăm chơi, không dè một cô bạn của tôi …phải lòng một chàng huấn luyện viên trong đó, mà người đó là …đối tượng của M. Chuyện tình thời trẻ cũng có lắm chông gai, cay đắng, đoạn trường. Muốn người ta người ta …không muốn, còn người chẳng thèm thì họ cứ quấn quanh ta, trường hợp của M. lần đó cũng làm tôi buồn theo không ít….


Khi về lại Nha Trang, đường về Dục Mỹ không còn thường xuyên như trước nữa, nhưng con đường trong tôi có quá nhiều kỷ niệm. Những buổi xế trưa ngồi sau chiếc xe Honda của chàng Tr/uý huấn luyện viên từ Dục Mỹ trở về, vừa nghe tiếng máy xe xành xạch nhẹ nổ, vừa hưởng cơn gió thổi lướt qua làm bay bay những làn tóc rối, nghe chàng tâm sự tỉ tê những giờ lên lớp căng thẳng như thế nào nếu bữa đó gặp đoàn Thanh tra đến viếng, rằng người Lính huấn luyện coi nhẹ nhàng nhưng trách nhiệm rất căng, “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu” ! Nhiều và nhiều lắm những nỗi niềm tâm sự riêng mang, để người nghe ghi đầy nỗi nhớ, để những hôm một mình đi trên bãi biển Nha trang cũng thấy trống vắng, nhớ nhớ làm sao, nỗi nhớ nao lòng.


Những ngày tháng tư đen ụp đến, những người Lính huấn luyện cũng theo đoàn quân di tản, bỏ những người Lính khoá sinh tan hàng trở về quê cũ, bỏ lạị quân trường Lam sơn cho những người phe nghịch mới đến tiếp quản. Những cô H, cô M. cũng đã lưu lạc nơi nào, không ai biết được. Đã bao nhiêu năm rồi, bao vật đổi sao dời, đầu người hai thứ tóc, kỷ niệm xưa rồi cũng mờ nhạt với thời gian. Những người cũ bây giờ ở đâu? Hy vọng gì có ngày gặp lại. Đường về Dục Mỹ thì có lắm đổi thay, một lần ghé lại nhưng chẳng tìm được chút dấu tích nào, có còn chăng là…. tìm trong kỷ niệm!!!!.





Với giọng văn nhẹ nhàng man mác chút nhớ, chút bâng khuâng, nhà thơ Hoài Niệm, đang mơ màng dắt người đọc tìm về những kỷ niệm xưa, nơi quân trường Dục Mỹ, với bạn bè, người thân...Rồi bây giờ bâng khuâng xa cách ngàn trùng. Cám ơn Tác giả với một đoản văn thật dễ thương về DỤC MỸ-TÌM TRONG KỶ NIỆM
mạc phương đình



Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2011

TRUNG TÂM VĂN BÚT NAM HOA KỲ MỪNG NĂM MỚI

Chi Lan tường trình Chủ Nhật ngày 20 tháng 2 năm 2011 (18 tháng Giêng năm Tân Mão), tại Nhà hàng Thiên Phú - Houston,  Trung tâm Văn Bút Nam Hoa Kỳ tổ chức buổi sinh hoạt đầu năm vui Xuân và tường trình kết quả tham dự Ðại hội Văn Bút Quốc tế ở Tokyo, Nhật Bản năm 2010. Chương trình súc tích, sống động kéo dài từ 11 giờ đến 4 giờ chiều. Nhà giáo Cao Hữu Báu đóng vai “Mõ làng” lên bục giới thiệu Ban tổ chức và hai điều hợp viên linh hoạt, duyên dáng của chương trình: Nhà thơ Túy Hà và Nhà văn Lê thị Hoài Niệm.2 MC: Lê thi Hoài Niệm và Tuý Hà chào mừng quan kháchTiếp theo là phần nghi thức chào quốc kỳ VNCH, phút mặc niệm cho chiến sĩ, đồng bào và giới cầm bút đã  hy sinh cho chính nghĩa Tự Do.Ông Nguyễn Thế Giác, Chủ tịch Trung tâm Văn Bút Nam Hoa Kỳ cũng là Trưởng ban tổ chức chào mừng quan khách và đồng hương. Hình ảnh Ðại hội Văn Bút Quốc tế tại Tokyo, Nhật bản năm 2010, có sự tham gia của đại diện Văn Bút Nam Hoa Kỳ do hai Văn hữu Vĩnh Tuấn và Yên Sơn cũng được trình chiếu (slide show). Xen giữa các tiết mục, các bài thơ, nhạc hùng và trữ tình được diễn ngâm rất “tới” bởi các nghệ sĩ Ðặng Minh Hùng, Nhật Hạnh, Vân Thanh, Hoàng Hoa, Lê thị Hoài Niệm, Kim Khánh, Phương Nga….Hoài Niệm-Phương Ngavới nhạc phẩm "Tiếng sáo Thiên Thai" của Phạm DuyTrong dịp này, Trung tâm giới thiệu ba văn hữu vừa được thâu nhận, trở thành thành viên Văn Bút là nhà thơ Cù Hòa Phong, nhà thơ Mây Ngàn (Ðặng Xuân Ngô) và nhà thơ Phạm Tương Như của miền Phù Sa Sông Cửu. Hai văn hữu lão thành là GS Doãn Quốc Sĩ và nhà biên khảo Huỳnh Quang Thế cũng được Trung tâm long trọng tuyên dương và trao quà lưu niệm.Những ai từng tham gia các sinh hoạt văn hóa đấu tranh tại Houston từ trước đến nay, có lẽ sẽ đồng ý với người tường trình về sự lớn mạnh, thăng hoa và tinh thần chống Cộng sắt son của tổ chức Văn Bút Nam Hoa Kỳ này. Nhiều năm qua CSVN đã ráo riết vận động các quốc gia có liên hệ thương mại, chính trị với Việt Nam như Nhật Bản và các nước khác nhằm trục xuất Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (VBVNHN) ra khỏi tổ chức Văn Bút Quốc Tế (VBQT) và thay thế bằng VBCSVN nhưng đều thất bại trước sự tranh đấu kiên cường của VBVNHN. Nhờ tinh thần kiên cường, sắt son ấy mà VBVNHN vẫn là tổ chức duy nhất của VNCH còn lại được quốc tế công nhận trên văn đàn thế giới cho đến ngày nay. Nhà thơ Vô Tình có mặt hôm nay đã đăng đàn tặng Văn Bút Houston bài thơ ngắn như sau:“Hội ngộ mừng Xuân Văn Bút ta Trẻ già – Ai nấy cũng thăng hoaLan Cao phát biểu - lời bay bướm,Cụ Doãn ngồi yên dáng thật thà Thế Giác chân què – còn sức khỏe,Vô Tình mờ mắt chẳng trông xaChào mừng tam vị - thành viên mới,Văn Bút Houston mãi đậm đà…!”Gần bốn trăm quan khách tham dự buổi sinh hoạt này, ngoài thành phần văn nghệ sĩ người ta ghi nhận có sự hiện diện của bà Chủ tịch Hội đồng Ðại diện Cộng đồng NVQG Houston và Phụ cận, các cơ quan truyền thông, báo chí địa phương và quốc tế, các đoàn thể ái hữu, đấu tranh và quân đội…. Buổi sinh hoạt hôm nay có ẩm thực, xổ số lấy hên đầu năm, người may mắn có thể trúng một TV Plasma và nhiều tặng phẩm giá trị do các mạnh thường quân thân hữu tặngÐặc biệt nhất có ông bà Nguyễn Quỳnh từ thành phố “nước” Port Arthur về tham dự. Ông Quỳnh là một đồng hương trung niên thành công đáng kể trên đường doanh nghiệp. Hiện ông là chủ nhân của nhiều bất động sản, tàu bè và ba bệnh viện có hàng trăm bác sĩ và nhân viên phục vụ ở vùng “tam giác vàng” Orange-Port Arthur-Beaumont. Texas. Ông rất hào phóng, là mạnh thường quân bảo trợ một phần cho chương trình của Văn Bút hôm nay, từng giúp đỡ và yểm trợ cho nhiều sinh hoạt văn hóa, giáo dục, đấu tranh và từ thiện ở Mỹ và ở trong nước. Bất thần ban tổ chức mời ông lên sân khấu và yêu cầu ông trình bày một bản nhạc mà ông yêu thích. Bản hùng ca của nhạc sĩ PD “54 Cha bỏ quê, 75 Con bỏ nước” được ông Nguyễn Quỳnh trình bày . Giọng hát của Nguyễn Quỳnh trầm, ấm và truyền cảm, làm cho mọi người không khỏi bùi ngùi nghĩ lại thân phận lưu lạc xứ người của mình.

Phóng sự của P/V NGUYỄN PHỤC HƯNG: TIỆC LIÊN HOAN MỪNG XUÂN Của VĂN BÚT NAM HOA KỲ

 

"Linh Miêu liều mình bắt Thỏ Bạch
Biển Đông bỗng điên nổi sóng phủ Hoàng Sa"

 Đó là 2 câu đối do thi sĩ Lan Cao đọc đề mở đầu cho buổi liên hoan mừng năm mới Tân Mão của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Nam Hoa Kỳ, vào trưa chủ nhật ngày 20 tháng 2 năm 2011 tại Houston. 

Hai câu đối trên đã nói lên tâm tình cũng như  ước vọng của thành viên Văn Bút Vùng Nam Hoa Kỳ. Chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Nam Hoa Kỳ là ông Nguyễn Thế Giác, giải thích về tổ chức của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và sự liên hệ mật thiết với Văn Bút Quốc Tế như sau:

“Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại gồm có 11 trung tâm, riêng trung tâm chúng tôi là trung tâm Nam Hoa Kỳ. Phải thành thật mà nói trung tâm này là cái đầu tầu vững mạnh,  và chúng tôi hoạt động thường xuyên.  Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại là một thành viên của Văn Bút Quốc Tế, bởi thế cho nên chúng tôi làm việc, tất cả mọi hoạt động đều liên quan đến Văn Bút Quốc Tế”

Buổi liên hoan này cũng là ngày phát hành Tạp Chí Tin Văn, là tiếng nói chính thức của Văn Bút Nam Hoa Kỳ đồng thời cũng là dịp gặp gỡ hàn huyên giữa thành viên của hội và thân hữu có cùng chí hướng.  Trong dịp này hai nhà văn lão thành có nhiều  đóng góp cho văn học Việt Nam là nhà văn Doãn Quốc Sỹ và nhà biên khảo  Huỳnh Quang Thế  được vinh danh.  

Diễn giả Nguyễn Mạnh An Dân  nói về những đóng góp lớn của nhà văn  Doãn Quốc Sỹ vào giáo dục và văn học Việt Nam:

“..Ngay từ những năm đầu tiên của chế độ tư do trong miền Nam ông đã có rất nhiều đóng góp cho kho tàng văn học. Đặc biệt là cái cung cách sống, gương sống của ông, đã làm gương sáng cho tất cả những người cầm bút chúng ta... Sau biến cố năm 1975 ông đã trải qua rất nhiều năm tháng trong lao tù” Trong khi đó, nhà biên khảo Huỳnh Quang Thế được diễn giả Nguyễn Manh An Dân nhắc đến như một đàn anh gương mẫu:  “ ..

là một huynh trưởng trong quân đội, là một người đã sinh hoạt trong Văn bút Nam Hoa Kỳ ngay từ những ngày đầu, sức khỏe anh không tốt, gia đình có nhiều trở ngại, tuy nhiên anh cũng chia sẻ mọi thăng trầm của Văn Bút, lúc vui lúc buồn.  Anh như một tấm gương sáng để cho anh em chúng tôi theo..”


Một tiết mục được quan khách chú ý là việc phúc trình về đại hội văn bút quốc tế kỳ thứ 76 tại Tokyo, Nhật Bản, vào tháng 9 năm 2010 do hai nhà văn Vĩnh Tuấn và Yên Sơn, đại diện cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, trình bày.

Ông Yên Sơn chia sẻ là phái đoàn Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại  đã thành công trong việc đưa nghị quyết, lên án sự đàn áp các nhà văn tranh đấu cho Tự do Dân chủ tại Việt Nam: “Văn bút Việt Nam Hải Ngoai  cùng với văn bút Thụy Sĩ đã đưa ra một nghị quyết trong đó tranh đấu cho một số rất là đông, đầy đủ tên tuổi những người đã và đang tranh đấu cho tự do nhân quyền,cho tự do ngôn luận ở Việt Nam…” 

Ông Vĩnh Tuấn thêm rằng nghị quyết đã được đại hội Văn Bút Quốc Tế tại Tokyo thông qua và sau đó được phổ biến sâu rộng:

Đặc biệt, khi bản nghị quyết được thông qua thì ngay tại thủ đô Tokyo, Nhật Bản đã được mang đến tất cả các tòa đại sứ của các quốc gia tại Tokyo, rất nhanh và rất lẹ..”

Trong tiệc liên hoan năm nay, Văn Bút Nam Hoa Kỳ cũng giới thiệu 3 thành viên mới chính thức gia nhập hội là các nhà thơ Cù Hòa Phong, Phạm Tương Như và Mây Ngàn Đặng Xuân Ngô.   Ông Đặng Xuân Ngô cho biết ông đã sinh hoạt văn nghệ từ lâu nhưng mới gia nhập Văn Bút Việt Nam vì tổ chức này có những sinh hoạt cần thiết cho người cầm bút:
“Tôi thấy lãnh vực đấu tranh văn hóa rất quan trọng và anh em trong văn bút đã làm được việc đó trong chuyến đi Tokyo. Tối thấy đây là một điểm không những vui mà cần cho những kẻ sĩ Việt Nam .." 

Có khoảng 250 văn nghệ sĩ và thân hữu tham dự buổi liên hoan. Quan khách hân hoan về sự thành công và phát triển của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vì cho đến nay Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vẫn là tổ chức duy nhất đại diện cho giới cầm bút Việt Nam trong Văn Bút Thế Giới.

Cụ Bà Đinh Ngọc Chương, 90 tuổi biểu lộ sự hân hoan và hy vọng của cụ đối với Văn Bút Việt Nam:
Tôi rất là vui. Tôi cũng mong làm sao giữ được mãi cho giới trẻ….” 

Trong khi đó cô Jenny Phương qua Mỹ từ năm 14 tuổi nói rằng đây là lần đầu tiên cô tham dự  buổi họp mặt của Văn Bút Nam Hoa Kỳ và cô chia sẻ cảm tưởng:

Lần đầu tiên Jenny được hân hạnh mời tới dự hội liên hoan của Văn Bút Việt Nam, Jenny học hỏi được rất là nhiều từ các bậc ông cha. Jenny cũng muốn tìm hiểu về Văn Bút vì Jenny cũng rất thích về văn, về nhạc nhưng qua đây từ nhỏ nên không  có cơ hội…”

Đáp ứng nhu cầu phát triển cũng như ước vọng của  thế hệ trẻ như  Jenny Phương, nhà văn Yên Sơn nói về các chương trình khuyến khích tuổi trẻ Việt Nam tham dự các sinh hoạt của hội để tiếp nối công việc của các thế hệ cha anh:

"Chúng tôi có đề xướng ra những chương trình hoạt động và mời gọi những cây bút  trẻ. Hiện tại riêng cá nhân chúng tôi đang cố gắng làm một trang nhà rất đặc biệt dành cho các tay viết như vậy, để có tiếng nói thay cho chúng tôi trong tương lai…” 

Phần văn nghệ phong phú với sự đóng góp của nhiều nghệ sĩ địa phương.  Tuy nhiên quan khách đã ngạc nhiên và bùi ngùi khi nghe giọng hát của một vị khách là Ông Steven Quỳnh qua bài: "1954 cha bỏ quê, 1975 con bỏ nước"

 Nguyễn Phục Hưng, tường trình từ Houston, Texas.http://haokhidienhong.com/hienvy/vanbutvietnamhaingoainamhoaky.html 

Thứ Bảy, 12 tháng 2, 2011

TÂM SỰ BARBARA



Trước khi vào chuyện.

 Barbara- tên của con chó là tôi, xin lỗi quí vị loài người có đọc, xin đừng cho tôi là láo xược, sao dám đứng ngang hàng cùng quí vị để nói lên tâm sự một loài…chó, đồ chó, đồ chó má…Dạ xin thông cảm dùm tôi, dù có miệng mà không thể thốt nên lời, nên tôi nhờ người chủ nuôi tôi nói dùm, chứ riêng tôi ngoài những tiếng sủa gâu gâu, có lúc thì để thông báo cho chủ nhà biết có khách đến, hay sủa để dọa mấy tên ăn trộm đang lẩn quẩn trước nhà, hay nửa khuya có con mèo chạy ngang qua ngõ, sủa hù để nó đừng vào nhà chủ mà ngủ bậy vậy thôi, vì từ xưa tới giờ, chó với mèo vẫn là hai kẻ thù không thể nào ở chung một chỗ....


Con chó tôi có miệng mà không thể nói nên lời. Theo thuyết luân hồi nhân quả của nhà Phật, có lẽ kiếp trước con chó là tôi đã là một người nói nhiều lắm lắm, nói nhiều mà toàn những chuyện bậy bạ, tào lao của những người thuộc loại …nhiều chuyện, thậm chí nói những chuyện hại người khác, nên kiếp này Trời đày đầu thai làm kiếp chó, để không thể nào nói lên được những điều mình muốn nói, mà chỉ nghe thôi..

Tôi sinh ra đời trên xứ Mỹ, xứ sở văn minh, chó được xếp hạng trước đàn ông, chỉ sau con nít và đàn bà. Tôi nghe quí ông than phiền như thế. Gia đình chủ của Mẹ tôi là một người Mỹ có nước da trắng. Chắc chắn bà cũng là một người tị nạn?, nhưng đã nhiều đời rồi. Nếu là người Mỹ bản xứ phải là người da đỏ và ở các bộ tộc ở miền Trung Tây nước Mỹ.

Ngày xưa, khi người da trắng mới đến ở xứ sở này, họ cũng cực khổ lắm, đói ăn  thiếu mặc, chết rất nhiều. Sau đó nhờ có người bản xứ dạy cho cách trồng trọt, săn bắn, nhất là gà tây, và họ dần dần thích hợp với đời sống mới,  nên thời gian sau đó mới có ngày “Thanksgiving” để người Mỹ trắng tạ ơn ( chắc chắn là người da đỏ bản xứ không muốn, nghe đâu gần đây họ muốn xin chính phủ…hủy ngày này?) . Nhưng  trong những phim cao bồi “ miền viễn tây” họ chiếu trên màn ảnh đó, ôi chao thấy cảnh người da trắng bị người dân bản xứ da đỏ chận đường bắn giết, rồi họ giết lại, hai bên cứ thế mà giết và giết, cuối cùng thì người nào sáng dạ, văn minh hơn, người đó thắng và phát triển thành một xứ sở hùng mạnh nhất thế giới. Tôi may mắn sinh ra lúc nước Mỹ đã quá sang giàu.

Chủ tôi là một gia đình Mỹ trắng đã lớn tuổi khi tôi ra đời. Tôi có gia phả. Dòng họ Laprado của cha tôi ở nhà phía bên kia đường. Cha mẹ tôi là bạn cùng xóm, biết nhau.  Nên khi mớí sinh ra, tất cả bốn anh chị em tôi đều được đem đến Bác sĩ thú y giám định, xem có bịnh hoạn gì không? và vì tới 4 con chó đực lẫn cái, chủ nhà nuôi không xuể, nên đăng lời rao trước cửa nhà: cho chó con, lúc chúng tôi vừa tròn một tháng tuổỉ nhưng chưa có tên riêng..

Chiều đó, có người thanh niên đến gõ cửa, khi chúng tôi vẫn còn đang rúc vào vú mẹ. Người thanh niên cũng có nước da màu trắng, mắt xanh, mũi cao, hỏi xin chó con theo tờ rao trước cửa nhà. Chủ nhà tôi hỏi dăm ba câu để tìm hiều người định đem chúng tôi đi. Anh tuổi ngoài hai lăm, có nhà riêng sau khi đi tham chiến trở về từ nước I-RAQ. Anh đã làm thông dịch viên tiếng I-Raq.

Bà chủ nhà tôi khen anh giỏi, đã chịu học nói tiếng nước người. Anh cười – nói anh có khiếu về ngôn ngữ, nên khi vào lính, họ cho anh đi học hai năm, ban đầu anh định học tiếng Tàu, nhưng sau thấy chiến trường I-Raq cần, nên họ chuyển anh qua. Bây giờ sau những năm đi chiến đấu, anh trở về và xin đi học lại.Và tôi là con ..chó con được anh chọn để đem đi ra khỏi nhà, dù tôi là con chó nhỏ nhất. Lý do để anh chọn vì tôi có hai con mắt khác màu nhau: một màu xanh và một màu đỏ.

Chủ nhà của tôi cho ngay, vì có lẽ họ nghĩ trong cơ thể tôi có điều gì bất thường chăng, sợ sau này tôi có thể bị đui, mù chẳng hạn, lại tốn tiền bác sĩ, mà bác sĩ thú y không rẻ .Thế là tôi xa mẹ tôi từ đó. Khi đó tôi chỉ biết kêu ẳng ẳng, nhưng lại ngoan ngoãn nằm vào lòng bàn tay anh. Anh ôm tôi sờ nắn, hun hít, xoa bộ lông tơ mềm mại và sáng màu mỡ gà của tôi.Nhà anh mới mẻ, rộng rãi, tôi tự do chạy tới chạy lui chơi mà không sợ đổ bể đồ đạc, vì nhà anh còn trống trơn. Anh bỏ tôi ở nhà với một lô đồ chơi, xương để gặm, bình nước uống và một đống thức ăn cho chó con, nên tôi tha hồ bỏ vào bụng. Tôi mê chơi, mê ăn uống mà quên dần nỗi nhớ mẹ, nhớ các anh chị em.Bạn học anh tới nhà chơi, trong  đó có một chị thích quá và xin anh cho mượn tôi vài bữa.

Thế là tôi lại ra đi, trước khi đi tôi đã được anh đặt cho một cái tên, như đầu tiên tôi đã tâm sự. Cái tên này được lấy từ tên của bà vợ ông Tổng Thống nước Mỹ trước đó. Trời! xứ Mỹ này hay thật, tên người, tên chó gì cũng giống nhau sao? Ai muốn đặt gì thì đặt. Tôi nghe họ bàn cãi vớí nhau về nhiều cái tên trước đó, cuối cùng họ chọn  BARBARA vì họ mến bà ấy. Quái lạ thật, cái xứ gì mà con cái đặt trùng với tên cha mẹ hoặc ông bà, mà người được lấy tên lại vô cùng hãnh diện. Chẳng khác với xứ Việt nam  của người chủ sau này, tôi nghe họ nói cái tên của người lớn nhiều khi phải kiêng cữ không được gọi, nhất là cái thời phong kiến gì đó, thí sinh đi thi mà lỡ viết nhầm tên ông Vua, bà Chúa, thậm chí một người họ hàng xa thật xa của vua, cũng bị coi là phạm húy, bị đánh rớt ở kỳ thi đó. Kỳ thật.Cứ như tôi đang làm một chuyến phiêu du từ nhà này sang nhà khác lúc mới tròn hai tháng tuổi. Nhà chủ mới của tôi là một người VN tị nạn Cộng sản. Họ nói chuyện với nhau như thế. Gia đình họ rất ít người, không như gia đình của anh chủ nhà đã đến xin tôi. Trời ! ai dám nói người Mỹ ở nước Mỹ không bị đói chứ?

Hôm anh làm chuyến du lịch đưa tôi đến nhà người bạn, cũng xa lắm. Họ ngồi hỏi han tâm sự. Anh Mỹ chủ nhà tôi khai ráo trọi. Hiện anh đang học thêm về văn hoá phương đông, mà trong đó đạo Phật được anh nghiên cứu kỹ. Vì qua thời gian, anh nghiệm rằng mỗi con người đều có kiếp luân hồi. Anh bảo cha mẹ anh ly dị từ khi anh còn rất bé, Mẹ anh nuôi giữ ba người con vì ba anh đi lấy người vợ trẻ khác rồi. Mẹ anh thì không làm một nghề nào cho ra hồn để nuôi con, nên bà cứ chất ba đứa con lên chiếc Trailer kéo theo xe mà chạy lòng vòng tìm job.

Nhiều bữa bà đi đâu tối mịt mới về, mấy anh em anh đói rã ruột, nhưng đâu có gì để ăn chỉ biết ngủ đói. Có hôm trời mưa, mẹ anh đậu cái trailer ở một đám đất trống tối thùi lùi, không có điện nước gì hết, nhưng nhờ vậy mấy chị em của anh mới được dịp tắm mưa. Cuộc sống của mấy mẹ con anh cứ lang bạt từ tiểu bang này mấy tháng lại sang tiểu bang khác, nên mấy anh chị em chẳng được học hành gì nhiều. Muốn về nhà ông bà ngoại thì xa quá chẳng biết đường đi. Anh cứ ngồi kể mà bà chủ nhà mới của tôi lau nước mắt hoài. Rồi sau đó, tôi nghe họ nói đưa anh vào Chùa VN cho anh biết về đạo Phật, mua nhiều sách nói về Đức Phật bằng tiếng Mỹ tặng cho anh. Con người có tâm tu tỉnh chắc kiếp sau sẽ được sinh ra trong gia đình hạnh phúc hơn.


Tôi ở nhà mới, vừa lạ chỗ, lại có nhiều người hơn chỗ cũ, nên tôi sợ, cũng chẳng dám đi lung tung. Tôi cũng buồn lại lo nữa, vì không biết gia đình chủ mới sẽ đối xử với tôi thế nào. Nỗi buồn lo cứ đeo đẳng, nên nhiều lúc tôi muốn đi tiểu mà chẳng dám kêu. Có hôm họ đi đâu hết, bỏ một mình tôi ở trong nhà, kẹt quá tôi đi tè tại chỗ.Tôi cứ sợ bị đánh đập la rầy, nhưng may quá, khi họ về nhà thấy cả vũng nước, mấy người hè nhau đi lau chùi thật sạch, mà tôi chẳng bị gì. Thế là tôi nghĩ tôi sẽ may mắn khi ở lại đây.Và tôi dần dần lớn lên trong gia đình chủ mới.


Ông bà và hai chị rất thương tôi, họ lo lắng săn sóc cho tôi như lo cho một đứa bé. Nhiều bữa bà chủ nấu thức ăn cho tôi, tôi thích lắm. Nhưng  nghe họ bảo phải cho tôi ăn thức ăn của …chó để khỏi bị rụng lông. Tôi cũng làm khổ bà, khi tôi vào tuổi dậy thì, như những phận đàn bà con gái, dù sao tôi vẫn là một động vật có vú, những lúc ấy, tôi thấy ông bà chủ tôi cứ đi lau chùi nhà, mà tôi xót lắm, nhưng họ cũng chẳng than phiền làm tôi cảm động vô cùng.

Đến khi tôi vừa trổ mã, vừa vào tuổi lớn thì đã bị bắt trở về và anh chủ Mỹ đem tôi đi triệt sản. Tôi buồn lắm nhưng đâu biết làm sao.Số tôi may mắn! Vì ở nhà anh chũ Mỹ, tuy có rộng rãi, nhưng một hình một bóng tôi cảm thấy cô đơn. Dù có bữa anh cũng có dắt tôi ra đường, nhưng đâu phải bữa nào cũng được đi. Thế là một hôm, tôi lẻn chui hàng rào đi ra khỏi nhà, may ra tìm thấy điều gì mới lạ hay có thêm bạn mới. Lần đầu tiên tôi đi ra đường mà không người hướng dẫn. Trời ơi, xe cộ đông quá xá, đường ngang ngõ dọc đầy dẫy tôi biết đi đâu. Lúc này tôi mới hoảng sợ thì đã muộn rồi. Muốn đi trở về thì không biết lối.

Tôi đang lơ ngơ lớ ngớ đứng bên đường, bỗng có chiếc xe hơi dừng lại, họ bồng tôi lên xe. Tôi có la ẳng ẳng, nhưng hai người họ đã lái xe chạy tiếp. Thì ra họ sợ con chó tôi băng qua đường, bị xe cán chết, họ thương tình bồng tôi về để đem trả cho chủ tôi.Nhờ có số điện thoạì của chủ tôi trên dây đeo cổ, họ gọì điện thoại và tìm đến nhà trả lại con chó. Họ đòi tiền chuộc tôi. Tôi cũng có giá đó chứ!

Nhưng số tôi không có duyên với người chủ Mỹ, đâu được mấy tháng thì anh có ý định trở lại chiến trường I-Raq, vì người ta rất cần những người thông dịch viên như anh.Thế là một lần nữa tôi phải ra đi, nhưng đi đâu? Ban đầu anh định bỏ tôi trở lại chỗ nhà nuôi chó, may ra có người nào đến xin đem về nuôi. Tôi thấy anh cứ đến vuốt ve tôi, nâng niu tôi như không muốn nói lời từ giã. Cuối cùng anh đã có quyết định đem cho tôi về nhà cô bạn gái có thời nuôi tôi.

Nhưng hai thành phố cách xa nhau hằng mấy tiếng đồng hồ lái xe, vậy mà anh cũng đem tôi đến đó. Xui quá, cả nhà họ đi vắng, anh phải chở tôi đi lang thang trong thành phố lạ, cuối cùng anh chở tôi đến một chỗ lạ lắm, có một bức tượng thật cao, trắng toát nhưng trông khuôn mặt rất hiền lành. Thế là anh và tôi cứ ngồi yên dưới ngôi tượng đó, thỉnh thoảng thấy có vài người đến đốt một cây nho nhỏ có mùi thơm, rồi họ khom người xuống lên mấy lần.

Sau này, ở với người chủ Việt nam, họ đã đưa tôi trở lại nơi đó một lần, tên gọi chùa Việt nam, và tượng kia là tượng Phật bà Quan Âm, và những người đến thắp nhang khấn lạy. Anh chủ Mỹ tôi buồn rầu từ giã ra về, sau khi đem tôi đến và nói với người chủ mới Việt nam: con Barbara từ nay đã thuộc về ông bà! Tôi nhìn anh leo lên xe mà lòng cũng buồn lắm, không biết bao giờ có thể gặp lại anh hay là vĩnh viễn? nhưng chỉ có thể sủa gâu gâu rồi nín lặng.Thế là từ đó tôi đã là …con cái trong nhà người Việt nam, và tôi đã nghe thông suốt tiếng Việt trong ngần ấy tháng năm dài.

Làm con chó như tôi kể ra cũng không đến nỗi tệ. Từ ngày về ở luôn nhà chủ Việt nam, tôi cũng được cưng chiều như một đứa trẻ. Thật ra nhiều lúc bà cũng có than phiền, phải chi đừng …có tôi trong nhà, thì bà khỏi phải lo lắng, đi đâu khỏi phải lật đật chạy về để cho tôi ăn, đi ra ngoài giải quyết nhu cầu. Tôi càng ngày càng lớn và xinh hơn, cũng biết nghe lời để “biểu diễn” một vài trò cho bạn bè ông bà xem, người đến chơi ai cũng muốn vuốt ve và khen tôi hiền hậu, ngoan ngoãn, dễ thương.

Có bữa tôi nghe người bạn của chủ nói rằng, nếu ở trên đất nước Việt nam xa lắc đó, tôi mà lỡ dại đi ra khỏi nhà, sẽ bị bắt ngay và đưa lên bàn làm…thịt. Và họ còn nói người VN có câu “sống trên đời không ăn cái dồi chó, chết xuống âm phủ không có mà ăn”. Trời đất, mấy người “ác” như thế thì xuống âm phủ chứ làm sao lên được thiên đàng? Tôi nghe mà giật nẩy mình và cũng nảy sinh thắc mắc, tại sao người ta phải ăn thịt chúng tôi nhỉ? Chúng tôi là “bạn tốt” của người mà, loài chó chúng tôi nổi danh là loài có nghiã, dù cho bị đánh đập, đuổi xua, nhưng vẫn thủy chung với chủ. Có nhiều con chó sống suốt đời với một gia đình, đến khi người chủ chết, con chó sẽ ra nằm giữ mộ đến khi kiệt sức rồi qua đời luôn.

Và ở thành phố này đây, mỗi khi có nạn tai, người ta vẫn cố cứu cho được những chú chó, cô mèo. Ngay cả khi bị thiên tai bão lụt, có nhiều người được cứu, họ đã nằng nặc đòi cứu dùm con chó thân yêu của họ, nếu không họ chẳng chịu rời nhà. Nhiều bữa được bà chủ chở đi trên xe, tôi cũng thấy có “nghiã địa” chó chứ đâu có ai bỏ vào bụng họ làm gì.
Thú vị nhất là những lúc tôi được đi du lịch. Từ khi chị lớn nhận nhiệm sở tại  PASCAGOULA ở tiểu bang MISSISSIPPI, tôi cũng được ngồi trên xe đến đó vài lần. Đường xa đi hơn nửa ngày mới đến, nhưng tôi chẳng thấy mệt gì, vì mỗi lần ngừng xe, ông bà chủ vẫn cho tôi xuống xe chạy nhảy, người Mỹ thấy tôi chẳng có ngại, lại còn vuốt đầu khen tôi đẹp.

Cái thành phố nhỏ xíu, nhưng những chiếc tàu chiến thì vĩ đại. Ở đó họ có cái xưởng đóng tàu chiến, nên có nhiều người ra vô căn cứ. Tôi cũng được chở ngang dòm ngó. Thành phố bốn bề thấy nước và nước, nhiều bữa đi trên con xa lộ mà chẳng thấy bóng chiếc xe thứ hai, chủ tôi cười thích thú, vì thành phố yên tĩnh đến lạ lùng. Xa lộ mang số 90 mà nhìn trước sau không có một chiếc xe nào xuôi ngược, muốn chạy xe nghênh ngang giữa đường cũng chẳng phiền hà ai.

Nhưng tôi lại nghe họ nói chuyện với nhau khi xe chạy ngang cây cầu bắt ngang sông: Singing river- dòng sông Hát!Chị chủ tôi bảo rằng có sự trùng hợp ngẫu nhiên thích thú về tên của con sông. Trên quê hương xa lắc xa lơ của họ, trong dòng lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc thời Đông hán, đã có hai vị nữ lưu anh hùng mang họ Trưng, đã lãnh đạo toàn quân dân đứng lên đánh đuổi được giặc chạy thục mạng trở về phương Bắc, người chị lên ngôi vua, làm vua nước họ được ba năm. Nhưng khi bị tên Tô Định đem quân xâm lược trở lại, hai bà cùng quân dân chống cự mãnh liệt, nhưng cuối cùng vì sức yếu thế cô phải nhảy xuống dòng sông HÁT tự vẫn, quyết không để bị giặc bắt.

Và ở đây, dòng sông HÁT cũng là đoạn cuối đời của một bộ tộc người da đỏ, muốn liều mình chết để khỏi rơi vào tay của bộ tộc thù. Chuyện tình thương tâm do cô Công Chúa Anola của bộ tộc Biloxi yêu người Tộc trưởng Altama của bộ tộc Pascagoula, nhưng cô không thể nào toại nguyện vì Tộc trưởng-cha cô bắt ép cô gả cho người khác. Vì tình yêu, cô đã cãi lời cha, liều mình chạy đến nhờ ngươi yêu che chở, những người Pascagoula hiền lành dễ mến rất thương cô. Trước sức tấn công dũng mãnh để đòi lại cô công chúa của bộ tộc Biloxi, người tộc Pascagoula thấy mình không thể nào chống lại nổi, toàn bộ tộc không kể con trẻ, đàn bà, đã nắm tay nhau từ từ bước xuống dòng sông, vừa đi vừa HÁT khúc hát bi ai, đến khi nào không còn có thể hát được nữa. Họ đi vào cõi chết khi màn đêm buông xuống để bảo vệ mối tình của Tộc trưởng. Mãi về sau, người ta vẫn còn nghe những tiếng u-u vọng về như những tiếng hát từ cõi âm. Dòng sông Hát có tên từ đó.

Tôi cũng còn được đi chơi mấy nơi nữa, mỗi khi ông bà chủ nhà tôi đi thăm các chị. Có lần tôi được về thủ phủ để đi xem pháo bông nhân ngày lễ Độc lập. Người ta đâu có phân biệt người và chó. Đồng loại của tôi cũng được dắt đi đầy đường, con người rất “quan tâm” đến chúng tôi, nên cứ một khoảng đường trên bờ sông đẹp đó, họ để sẵn những cái “túi” để chủ nào làm “vệ sinh” sạch sẽ đường đi khi chó của mình cần giải quyết. Chúng tôi gặp nhau cũng có gâu gâu chào hỏi. Nhiều cô, nhiều anh chó đẹp quá chừng chừng, có lẽ được nuôi trong những nhà giàu có, được cắt xén lông thật đẹp. Chó được đi thi tuyển để lãnh giải mà.

Dù làm thân chó, nhưng con chó ở xứ Mỹ thật sung sướng, không cần biết nhà giàu hay nghèo, vẫn được săn sóc thật kỹ càng, có thức ăn riêng và ngủ có …nệm ấm, phải đi chích ngừa hằng kỳ, được bảo vệ kỹ hơn con người ở trên đất nước Việt nam xa lắc xa lơ kia, chủ nhà tôi bảo thế. Dù hằng đêm, bà chủ vẫn vuốt đầu tôi và đọc kinh cầu nguyện cho kiếp sau tôi được đầu thai lại kiếp người.

Tuy làm kiếp chó mà được sống trên một đất nước tự do, được nuôi nấng kỹ, bảo vệ tối đa, kẻ hành hạ chó vẫn bị đi tù, có lẽ còn hơn làm người mà bị hành hạ, bị coi rẻ hơn con chó. Kiếp sau, nếu có được đầu thai sống lại, chắc phải xin Thượng đế cho tôi suy nghĩ kỹ càng, thà làm con chó mà được đầy đủ mọi quyền lợi, còn hơn làm kiếp người mà bị áp bức, khổ sở trăm điều như những con người đang ở trên xứ sở mang tên Việt nam kia..

MƯA LẠNH

Trời buồn , gió rét căm căm
Những bông tuyết trắng viếng thăm góc vườn
Nhìn cây hoa chết , lòng thương
Trồng cây , nuôi chó nợ vương kiếp nào ??
Những loài hoa, hương ngạt ngào
Nụ hoa đỏ thẫm đón chào người thăm
Giờ đang ủ rũ bập dầm
Thời tiết buốt lạnh oái oăm năm này...
Thương hoa tiếc ngẩn ngơ hoài.....

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2011

NGƯỜI ĐI TÌM DĨ VÃNG




Người đàn bà trung niên, mái tóc uốn cao, dáng vẻ lịch sự, trên tay cầm quyển sách nhỏ ngồi như bất động trước ly cà phê đá đã hoàn toàn tan thành ly nước màu đùng đục, ngoài thành ly đã đọng một vũng nước nhỏ do đá tan ra. Bà ngồi trong quán cà phê nhìn sang căn nhà đối diện bên kia con "tỉnh lộ", nơi đang có một đám tang, địa chỉ căn nhà mà mấy tiếng đồng hồ trước, bà nôn nao muốn đi tìm gặp một người đang sống trong đó .

Người ta đã căng lên những tấm vải bạt màu trắng để che bớt nắng. Một vài cái bàn kê sẵn có nhiều người ngồi. Kẻ vào người ra, có dăm ba người đầu chít khăn tang nhỏ có lớn có. Một đám người đứng bên này đường nhìn sang, họ nói chuyện bàn tán xôn xao, có lẽ là những người qua đường tò mò hay người trong xóm có lòng muốn đến tiễn đưa người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Tiếng kèn đám ma não nuột vang lên, đã sắp đến giờ di quan. Người chủ tiệm nói to với vài người khách đang ngồi trong tiệm. "Ổng đi sớm ngày nào cũng mừng cho ổng! chớ cái tính ngang tàng của ổng làm sao sống yên dưới chế độ này. Nghe nói chúng cũng còn có chút “nể mặt” cái ông cha theo cộng sản đi tập kết về kia, dù chẳng làm nên tích sự gì, nếu không chúng đã cho ổng đi tù mút chỉ lại rồi. Đã nghèo mà còn rước thêm căn bịnh ngặt nữa. Nhưng số ổng cũng còn chút may mắn, những ngày gần cuối đời nghe đâu có mấy người bạn ở nước ngoài gửi về giúp cho chút đỉnh tiền, nên mấy đứa con nó đem về chăm sóc đàng hoàng hơn. Sống mà vui vẻ khoẻ mạnh thì ráng sống, chứ buồn đau bịnh hoạn thì cũng nên đi sớm cho khoẻ tấm thân…”

Người đàn bà đứng dậy khi thấy người ta đưa quan tài người quá cố ra “xe tang”. Đó là một chiếc xe được “cải tiến” để chở đồ đạc ở nông thôn . Hai tay người thanh niên trẻ trong bộ đồ tang đang cầm tấm hình đi trước đập mạnh vào mắt bà. Phút giây đầu tiên bà muốn đánh lừa mình, không tin đó là người bà muốn tìm. Ông già và tàn tạ quá! Không biết hình chụp lúc nào nhưng có lẽ là tấm hình mới nhất. Bà mở trang sách ra, cố nhìn lại người trong tấm ảnh đã bạc màu, và tấm hình người đàn ông già đang nằm trong cỗ áo quan kia, cùng một người đó sao? thật sao? Ruột bà quặn thắt. Bà nhẹ nhàng mở xách tay, lấy giấy lau vội những giọt nước mắt nóng hổi vừa rơi xuống má, và gọi người tài xế taxi bảo cho xe chạy chầm chậm theo sau đoàn người đưa tiễn đám tang.

Bà không thể quên được những dòng chữ cuối cùng trong bức thư ông gửi mà bà nhận được từ nhiều năm về trước “…Anh vẫn biết đàn ông không thể khóc, nhất là những người làm Lính như bọn anh, nhưng ai có quyền ngăn cấm được những xúc cảm riêng mình bộc lộ ra ngoài. Từ hôm nhận thư em, lá thư giờ đã nhẹt nhòe nét chữ , anh đã buông xuôi tất cả, thế là hết. Nhiều đêm dẫn lính đi kích, anh cứ như người mất hồn, có bữa tưởng đã đi luôn rồi, nếu thằng lính truyền tin đi theo anh không lanh trí xô anh ngã xuống, chắc viên đạn vô tình đã giúp anh tìm lối giải thoát an bình…”

Họ quen nhau từ lâu lắm, khi người con gái chưa rời khỏi trường Trung học, và chàng, từ một thành phố của miền Trung đến trong bộ quân phục Sinh viên Sĩ quan Không quân đang thụ huấn tại quân trường ở Nha trang.

Những con đường rợp bóng cây cao trong thành phố là lối họ vẫn đi mỗi khi chàng được phép rời khỏi quân trường, vài quán cà phê thơ mộng như Chiều tím, Tao ngộ,v…v… … họ đã đến và trao lời tâm sự.
Đường biển Duy Tân và bãi cát dài đã in nhiều dấu chân của họ vào những ngày cuối tuần, dù sau đó đã bị những con sóng vô tình cuốn hút ra xa. Tình cô nữ sinh áo trắng và chàng SVSQKQ dễ thương biết chừng nào. Dòng mực xanh trên những trang giấy pelure màu hồng, màu xanh lơ với những đoá hoa vàng trên góc trái, là những tình thư nàng viết dúi vào tay chàng sau mỗi lần gặp gỡ, giúp chàng vui trong suốt tuần lễ ăn cơm nhà bàn và những giờ thụ huấn.

Buổi chiều cuối tuần họ đưa nhau đi dạo trên bãi cát khi chàng sắp sửa rời quân trường về lại thủ đô để đi sang Mỹ.
-Bây giờ em đã tốt nghiệp trung học, chắc là em đã có dự tính cho tương lai? Vào Sài gòn học đại học hay…?
Chàng bỏ lửng câu hỏi, nhìn nàng âu yếm.
Nàng cười duyên, níu tay chàng nhỏ nhẹ:
-Ở lại nhà chờ anh về! Nè đừng để bị …Mỹ gái bắt ở bển luôn chắc là em không sống nổi đâu à.
-Nói bậy! Không ai có thể thay thế em trong tim anh, tin không?
-Em tin chứ! Em tin nên em sẽ chờ. Trong khi chờ anh, em sẽ thi vào trường Sư phạm ở đây, vì về thủ đô học, gia đình em sẽ không lo nổi cho em về mọi thứ, với lại Ba em sợ con gái về thành phố lớn mà không có gia đình một bên, không bà con thân thuộc để dòm ngó, dễ bị… hư thân. Nàng cười như chữa thẹn cho câu nói.
-Em mà làm cô giáo chắc có nhiều học sinh mê tít đó, giống như anh bây giờ….Dù gì cũng cố gắng chờ anh nghe! Anh sẽ viết thư cho em hàng ngày đó!
-Đừng có nói xạo à nghe, còn học hành nữa chứ! Anh phải cố gắng học để sớm có ngày về với em, với gia đình!
-Ở bển được càng lâu, càng tốt, đỡ phải đi đánh giặc ngay! Chàng cười sau câu nói nửa như đùa, nửa như nói lên những suy nghĩ thầm kín về cuộc chiến đang xảy ra hằng ngày.
-Sợ người ta không cho anh ở thôi! Ừ, mà cũng có thể, nếu anh có gia đình người Mỹ nào đó chịu cho ở lại …làm rể?
-Còn khuya! Anh phải về, nhất định anh phải học cho thật giỏi để về nước thật sớm để được gần em, để còn cưới vợ… để… để , nhiều cái để lắm hiện giờ anh chưa nghĩ ra.
-Để gì cũng được, miễn đừng …để bỏ người yêu ra thì thôi.
Họ cùng cười vui như mọi lần sau những phút chuyện vãn vu vơ của những đôi tình nhân trong thời chinh chiến, dù biết rằng ngày mai này họ phải chia xa.

Và chàng về thật. Nhưng không về trong danh dự với mảnh bằng lái máy bay như bao nhiêu người bạn đồng khóa. Chàng về sớm hơn họ với một lý do rất đơn giản: không vượt qua nổi khóa sinh ngữ cần thiết để vào trường bay, cũng không được vào học lại lớp để chờ kỳ học bay sau như một số ít bạn đồng khóa khác.

Thế là tương lai vỡ vụn với chàng. Chàng đâu đến nỗi tệ vậy. Những ngày đi học, môn Anh văn là sinh ngữ chính mà, chàng luôn có điểm cao trong bộ môn viết, những bài thi trong khóa học , chàng vẫn vượt qua trót lọt, và những tháng ngày học thêm với người Mỹ, Vị Mục sư giảng “Đạo Tin lành” trong thành phố, giọng phát âm đối thoại của chàng cũng đâu có tệ.

Nhưng chàng vẫn phải trở về. Dù lờ mờ. Chàng hiểu.

Điều chàng vẫn lo ngại là những người chung quanh không thể nào hiểu được, nhất là nàng. Chàng cảm thấy tủi hổ, thất vọng hoàn toàn. “Chiếc áo bay” vẫn là niềm tự hào khi chàng chọn đời binh nghiệp đã mãi mãi không thể khoác lên người chàng, sự đau xót kéo theo nỗi bất mãn và sự căm giận vô cớ đã bao bọc lấy chàng. Chàng muốn quên, muốn xoá sạch những kỷ niệm ngày qua, làm một người mới để không còn ai biết.
Điều chàng băn khoăn ray rứt vẫn là nàng, làm sao nói cho nàng hiểu, với một chứng cớ rành rành và một lý do mơ hồ làm sao nàng có thể chấp nhận? Liệu gia đình có bị liên lụy gì không vì anh nàng cũng đang làm Lính. Nhưng cuối cùng, “tự ái” cuả một người Lính đã giúp chàng có thêm can đảm để xa lánh tất cả. Và chàng đã câm nín, chịu đựng, cắt đứt mọi liên lạc với nàng, dù biết rằng mình sẽ mất tất cả chỉ còn lại nỗi đau. Một người có lý lịch ghi không rõ ràng: Cha chết!

Chàng vẫn được làm… Người Lính, nhưng ở một đơn vị Bộ binh, một thời gian sau với cấp bực Trung đội trưởng một đơn vị tác chiến đóng quân tại một tỉnh miền Nam Trung phần.

Và sự chờ đợi nơi người con gái có giới hạn, nhất là khoảng thời gian dài không nhận được tin thư. Những lo âu thắt thỏm, những sợ sệt vu vơ và cả sự giận hờn cho một sự phản bội vô hình nào đó. Tình yêu và sự chờ đợi không còn là tỷ lệ thuận nữa khi tin thư không như lời hứa hôm nào, và…

Tình cờ, thật tình cờ nàng gặp lại một người bạn trong khóa học của chàng và đã là một Pilot trực thăng vào một buổi chiều nơi quán nước ở bãi biển.
-Chị không nhận được tin gì sao? Hắn đã về nước từ lâu lắm rồi, nghe họ bảo hắn không vượt qua nổi kỳ thi anh văn để qua trường bay, nhưng lý do chính là vì lý lịch sao đó…, tôi cứ ngỡ chị đã biết điều đó và cứ ngỡ chị không còn... .
Người bạn bỏ lửng câu nói với vẻ nuối tiếc và cả lời xin lỗi đã hiểu lầm.
-Anh ấy dấu tôi ? Tại sao không liên lạc, không tỏ thật với nhau về những chuyện đã xảy ra? Có sự giận hờn trong câu nói.
-Mỗi người có một lối suy nghĩ khác nhau và những ..mặc cảm đi cùng, nhất là những người thanh niên trẻ nhiều nhiệt huyết như tụi tôi!
-Mặc cảm! Tại sao lại mặc cảm với người mình yêu? Chẳng lẽ tôi đến với anh ấy chỉ vì bộ đồ bay? Anh ấy xem thường tôi đến như vậy sao? Anh ấy không hiểu được tình yêu tôi dành cho anh ấy có thể vượt qua được tất cả sao? Anh ấy không hiểu hay cố tình không muốn hiểu?

Như muốn biện minh những cảm nghĩ tốt nơi người vắng mặt, người bạn chân thành bày tỏ:
-Có lẽ vì quá yêu chị cũng nên, hắn đã bắt buộc phải xa chị. Tôi nghĩ khi tình yêu đã đi tới một điểm tuyệt đối, người ta thường không muốn làm người mình yêu thất vọng, buồn rầu, lại không muốn chị bị liên lụy…, thà vĩnh viễn xa nhau..,chắc đó là lý do bạn tôi âm thầm xa lánh chị, dù tôi biết hắn bị dày vò và rất đau khổ. Người bạn buông tiếng thở dài nhưng đã gượng làm vui, vớt vát:
-Hay là tôi bảo bạn tôi viết thư xin lỗi chị, để hắn trở về ? Cho hắn có cơ hội tìm lại nguồn sống vui ngỡ rằng đã mất?
-Anh ấy đã thật sự mất tôi rồi, không ngỡ ngàng gì nữa đâu!!!
Nàng chưa nguôi cơn giận.

Bây giờ bà đang đi theo sau chiếc xe tang của người tình lính chiến năm xưa. Bây giờ bà mới là người thật sự mất ông vĩnh viễn mà không còn ngỡ hay nghi ngờ gì nữa. Ông đi là chôn hết bao đắng cay khổ nhục trong đời, trút sạch mọi oan khiên, xóa tan hoàn toàn những kỷ niệm một thời trai trẻ. Có thể ông đã mỉm cười khi đang lơ lửng đâu đó trong chốn không cùng khi nhìn xuống cõi trần thấy bà ngồi đây. Bà nguyện cầu cho linh hồn ông sớm được siêu thoát nhưng lòng buồn thấm thía.

Đã hết thật rồi, khi bà tìm biết được nơi ở của ông để về thăm lại người xưa, lại thêm một lần hụt hẫng. Bà đã khóc, những giọt nước mắt mang đầy nỗi tiếc thương, ân hận mà trước khi đến nơi này bà đã hứa, dù bất cứ trong hoàn cảnh nào, ngay cả khi có mặt người vợ của ông, bà cũng sẽ trút hết những dằn vặt, những hối hận mà bao nhiêu năm vẫn đeo đẳng theo bà trong nhiều lúc nửa đêm về sáng, dù gì bà cũng phải một lần đối mặt với dĩ vãng năm xưa, dẫu muộn, để nghe chính người trong cuộc nói lên tất cả, dù bây giờ không ai còn lệ thuộc vào ai. Và bà cũng muốn âm thầm giúp đỡ trong điều kiện cho phép, dẫu sao bà cũng được sinh sống ở một vùng đất tự do, giàu có. Ngược lại, ông đã mất mát quá nhiều, thiệt thòi đủ mọi phương diện.

Cũng như năm xưa Bà tìm đến được nơi đơn vị ông đồn trú đầu tiên, để nhận tin ông đã vừa xin thuyên chuyển về miền cao nguyên đất đỏ. Cứ như một trò chơi rượt bắt, mà bà đang là kẻ bị bịt mắt sờ soạng đi tìm.

Trong bức thư giận hờn gửi cho ông, bao nỗi bực tức, những lời cay đắng đã hằn lên nét chữ, để ông buồn, ông tuyệt vọng, ông buông xuôi và suýt chết như lời thư ông viết cho bà lần cuối cùng bà nhận được…

Khi cơn giận nguôi ngoai, bà muốn tìm đến vùng đất bụi mù, nơi người sĩ quan mới đến nhậm chức để tâm sự giải bày, để tìm lại tình yêu xưa, thì được tin ông đã lập gia đình với một người con gái ở quê ông, qua sự dàn xếp của người Mẹ trong lần về phép trước đó không lâu, dù hai người chưa hề quen biết nhau bao giờ.
Những ngày sau đó, nỗi buồn và niềm hối hận lẫn sự nuối tiếc, đã khiến người con gái sinh bịnh, một cơn bịnh như ngặt nghèo có lúc, và như không có bịnh đau gì cả, khiến cha mẹ nàng lo lắng cùng cực. Bác sĩ, nhà thương cũng không tìm ra căn bịnh. Thuốc Tây, thuốc Bắc gì cha mẹ nàng cũng bắt uống qua, thậm chí có những người quen với gia đình còn đoán già đoán non hay là nàng bị bịnh “đàng dưới”. Họ vẫn còn tin thầy bùa thầy pháp nên giới thiệu lung tung, may mà gia đình nàng không gọi thầy đến cúng.

Cuộc sống lần lửa trôi qua, ngày nàng ra trường Sư phạm cũng là lúc nàng cố quên chuyện tình cũ đầu đời. Người bạn cùng khóa cũng là người chồng tương lai đã giúp nàng vượt qua mọi bão nổi trong đời. Họ cùng chọn về một tỉnh nhỏ ven biển miền Trung. Ngày ngày đứng trên bục giảng nhìn đám học sinh bé nhỏ với nhiều kỳ vọng ở tương lai, nàng nhận ra rằng đời sống phải luôn đi tới, phải phấn đấu để xây dựng tương lai tốt đẹp, dĩ vãng rồi ra cũng chỉ còn là kỷ niệm.
Nếu một ngày không vì một dun rủi tình cờ nàng biết được tin.

-Anh ấy bị bắt trong những ngày gần cuối cùng của cuộc chiến trước khi có lệnh di tản triệt thoát khỏi cao nguyên..
Người bạn mới gặp lại trên đất Mỹ trong buổi họp mặt không quân, kể cho nghe gần hết quãng đời ông lúc sau này, nói tiếp:
-Anh ấy bị bắt làm tù binh, bị giam trên miền núi, sau gần ba năm được trả tự do, nhưng về đến nhà lại gặp toàn chuyện buồn cũng từ người cha theo Cộng sản đó..

Cha ông đã về. Về từ một nông trường miền Bắc. Cha ông đi tập kết nên trong hồ sơ lý lịch ghi cha chết, là cái cớ không phải chỉ của riêng ông, mà của nhiều người miền Trung lẫn miền Nam thuở đó. Nhưng khổ nỗi, cha của ông thuộc thành phần “tiểu tư sản” nên gần một phần ba cuộc đời đi theo “bác và Đảng”, cũng chỉ quanh quẩn ở mấy cái nông trường cuốc đất trồng khoai, tiếp tế lương thực cho “bộ đội vào Nam giải phóng”, và còn khổ hơn những người gọi là nghèo khổ của miền Nam tự do, trong khi phải nuôi thêm một người vợ và hai người con khác..

Cuộc giằng co giành nhà giành đất bắt đầu xảy ra. Cha ông quả quyết đó là tài sản của…dòng họ, ông ta có quyền sở hữu, “ xử lý”, nếu ông ta không chiếm giữ ngay, sẽ bị quốc hữu hoá vì ...thằng con “ngụy”. Cha con xa cách mấy chục năm dài, đã không hề có chút tình cảm, lại ở hai chiến tuyến khác nhau, bây giờ lấn qua quyền lợi. Mẹ ông vừa buồn rầu bị mất chồng, bao nhiêu năm chờ đợi bà ở vậy nuôi con, chờ chồng, giờ người chồng trở về khiêng thêm tội danh phụ bạc. Người con trai duy nhất thì thân tàn ma dại, lại là kẻ thua cuộc, gia sản bao nhiêu năm bà gìn giữ cho thằng con, giờ bị cướp đoạt trắng trợn, nên bà ngã bịnh và ra đi.

Cuối cùng một mảnh đất được người cha chia cho ông. Nhờ những người hàng xóm thương tình phụ dựng lên một căn nhà tranh nho nhỏ và một sào ruộng cũng bị gom vào hợp tác xã. Ngoài những ngày tháng làm nông, cuốc đất trồng khoai để sống qua ngày, có thời gian ông theo người làng lặn lội vào tận trong núi “đi điệu tìm trầm”, may ra có thêm chút đỉnh tiền bạc để phụ vợ nuôi con, nhưng rồi ông đã suýt bị cọp vồ. Thoát chết , ông từ giã nghề đi điệu. May mà vợ ông và những đứa con đã về sống nương nhờ bên phía ngoại, nơi căn nhà đang tổ chức đám tang.

Khi những người bạn tù được đi Mỹ theo diện HO, thì ông một lần nữa thất vọng hoàn toàn, vì những ngày tháng ở tù chưa đủ tiêu chuẩn để được ra đi. Dù thất chí nhưng vẫn giữ tính ngang tàng, sĩ khí năm xưa .

Cuộc sống cực khổ thiếu trước hụt sau nên khi người hàng xóm rủ ông chung sức làm nghề…nấu rượu lậu, một vốn …bốn lời, ban đầu ông còn ngần ngừ, e ngạì, nhưng khi đói đầu gối cứ phải bò, ông vẫn phải làm những việc mà mình không hề muốn .

Với những chén rượu hằng ngày tự bàn tay của ông sản xuất ra, lâu dần đã gậm nhấm từng tế bào da thịt trong ông, nó biến dạng từ hình hài lẫn tình cảm, giết chết hẳn một con người oai hùng, hiên ngang một thuở, giết luôn cả phần tương lai còn lại với chứng bịnh ung thư gan.

Tâm sinh lý đều bịnh hoạn. Ông chết. Trút sạch nợ trần gian, như lời nói của ông chủ quán bên đường “….. cũng nên đi sớm cho khoẻ tấm thân…”

Người đàn bà ngồi trên xe trở về lại thành phố, bên tai vẫn còn nghe văng vẳng tiếng khóc và lời kể lể của người góa phụ vừa khoác áo tang chồng:

-Từ lúc tui dìa làm dợ ổng, tui cứ thấy ổng buồn hoài , nhưng hỏi ổng đâu có nói.. Rồi thời cuộc đưa đẩy, ổng ở tù dià, cứ lầm lầm lỳ lỳ. Khi cha con gặp lại nhau, họ cãi nhau quá trời , nói cũng vì ông cha theo cộng sản mà ổng mất hết, sống cũng như chết, làm hại cả một đời mẹ con ổng, mà cuối cùng cũng chẳng được quyền cao chức trọng gì, lại còn nghèo xác nghèo xơ. Hai cha con đã không có gần gũi đến khi cha ổng mất. Còn tài sản thì mấy đứa con riêng của ông cha chiếm hết, vì họ có quyền, nên anh em cũng không thuận thảo, tới lui. Tui cứ nghĩ cộng sản dô nên ổng trở dìa làm dân, mất hết, tui đâu biết ổng nói xa nói gần, mãi đến khi gần chết, ổng mới kêu mẹ con tui lại, ổng xin lỗi đã không làm tròn bổn phận làm chồng làm cha trong ngần ấy năm qua, biểu tha lỗi cho ổng, rồi ổng khóc nói hồi trước ổng có yêu một người, mà vì lý lịch cha ổng, nên ổng để mất người ta…, may mà chị đã dià nhằm ngày đưa đám tang ổng, chắc ổng cũng được ngậm cười nơi chín suối……… 
Lê thị Hoài niệm

                                        

Thứ Bảy, 1 tháng 1, 2011

CẢM TÁC BÀI VIẾT:CHUYỆN NGƯỜI TÙ CHẾT CHIỀU 30 TẾt của NGUYÊN NHUNG



Một ngày buồn theo lệnh.....
Người lính cũ Cộng hoà vác gói lên vai
Vợ con nhìn theo nén tiếng thở dài
 Đâu biết được đó là  lần chia xa mãi mãi  

Rừng núi thâm u ngút ngàn Việt bắc
Những người tù trong lạnh gía rét căm
Tấm vải gai (bao cát) dùng lót ấm chỗ nằm
Giờ phút cuối làm áo choàng liệm xác 

Anh ra đi ngay chiều 30 Tết
Xác thân xưa giờ còm cõi ốm gầy
Bởi vì đâu anh phải đến nơi đây?
Lặng lẽ chết không người thân vuốt mắt. 

 Nhớ ngày nào anh cầm quân chống Giặc
Anh hiên ngang, anh kiêu dũng, oai hùng
Giặc đến đây vì chủ thuyết cuồng ngông
Anh hiện diện trong đoàn quân tự vệ. 

Ai dám nghĩ có ngày buồn đau thế?
Những quân nhân cán chính ngày nào
Bị đoạ đày sống cực khổ thế sao
Thể xác, tinh thần ! nỗi đau nào phải kể? 

Cái chết của Anh đã làm người ứa lệ
Giữa những người tù cùng cảnh ngộ đói cơm
Cái bánh chưn xanh được "ưu đãi" cuối năm
Nhưng anh vĩnh viễn không thể cầm chiếc bánh. 

 Khi bạn tù biết thì xác thân anh đã lạnh
Họ bàng hoàng, cố cứu sống lại anh (!)
Trong cổ áo quan gối đầu chiếc áo màu xanh
Và chiếc bánh,  cúng tiễn hồn người chết!!!!   

Bao năm qua có kẻ còn người mất
Trại tù xưa cũng nay đổi, mai dời
Mộ phần anh cũng phó mặc đất trời
Bên dòng suối, nghe rừng than , đá khóc. 

 Vợ con anh với lòng tin Chúa -Phật
Van vái khẩn cầu đi tìm kiếm mộ chồng- cha
Linh hồn anh phù hộ vợ con nhà
Đã xui khiến người bạn tù chỉ lối 

 Xuân năm xưa anh là người tù nhân chết vội
Bao nhiêu năm rồi vợ con lặn lội tìm mồ.
Giờ tro cốt anh được hương khói phụng thờ
Nén nhang đốt , xin hồn linh siêu thoát

Lê thị Hoài Niệm.

Thứ Hai, 27 tháng 12, 2010

TÌNH ẤY BAY RỒI

Ảnh internet
















Buổi chiều tôi đón chị ở phi trường. Chị đến thăm và sẽ ở chơi với gia đình tôi khoảng hai tuần lễ trong thời gian ba tháng chị viếng thăm xứ Mỹ. Chuyến bay đến đúng giờ, người xuống gần hết nhưng vẫn chưa thấy bóng dáng chị đâu. Dõi mắt kiếm tìm, mắt tôi đụng tia nhìn từ đôi mắt một người đàn bà Á đông đã đứng sẵn trong lối nhận hành lý. Chị vẫy tay, tôi ngờ ngợ, chị đó sao?

Tôi không ngờ chị đổi thay nhiều quá: người nhỏ đi, khuôn mặt túm rụm lại, mái tóc thì xơ xác. Tôi giật mình và xót xa cho sự xuống sắc diện nơi con người chị. Nhưng lối nói chuyện nhát gừng từ những ngày sau tháng tư năm đó vẫn còn đâu đây:
-Tới lâu chưa? Máy bay hạ cánh rất đúng giờ.
-Em sợ chị đi lạc, nên đến sớm mà vào trong đâu có được, cứ lẩn quẩn gần đây mà lại..vuột mất chị.
-Theo người ta mà, tiếng tây tiếng u dốt, nhưng con mắt còn lanh, chị cười hì hì sau câu nói. Rồi tiếp:
-Thấy thay đổi nhiếu quá, có giật mình không?
Tôi cười. Trời! chị đoán đúng quá, nhưng ngại nói ra.


Trên xe về nhà, chị nói ít, vẫn những câu không chủ từ gì cả
-Cảm ơn đã mua vé đón về đây chơi. Bạn bè như thế này quí hoá quá!
Tôi hỏi thăm về những ngày ở trên đất nước Mỹ vừa qua, khơi nguồn cảm hứng cho chị bắt đầu trải lòng ra một chút:
-Từ bữa qua đây ở với cậu Tính, cũng có đi thăm mấy nơi, mấy cuối tuần cậu ấy được nghỉ. Nhưng chị em lâu năm không gặp lại nên cũng thấy sao sao. Trời ơi xứ Mỹ văn minh quá, chỗ nào cũng sạch sẽ, đẹp đẽ, nhà nào cũng ngon lành, xe cộ sáng trưng mà chạy có đường có lối, không loạn cào cào như bên mình, nghĩ mà ..
Chị bỏ lửng câu nói, tôi tiếp lời:
-Chị đã gặp lại người bạn năm xưa nào chưa?

Chị nín lặng một hồi, tôi biết đã khơi lại một niềm đau nào đó nên chị chưa muốn nói. Tôi lặng lẽ lái xe về nhà và chị đang dõi mắt nhìn quang cảnh hai bên đường đang bỏ lại vùn vụt phía sau, không biết chị có nhìn thấy gì hay đang tưởng tựợng về một cuộc gặp gỡ, nếu có thể xảy ra trong một vài ngày tới, nơi thành phố tôi đang ở, mà chị sẽ là nhân vật chính..

Sau những ngày tháng tư buồn. Không phải một mình chị buồn mà tất cả mọi người miền Nam lúc đó, nhưng mỗi người một hoàn cảnh khác nhau, nhất là những người vợ Lính.

Khi tôi đang lúi húi nấu bữa cơm chiều với những hạt gạo mốc vừa mua được từ cửa hàng lương thực. Chị trở về thành phố và đến nhà tôi chơi, lại đòi ở lại ăn cơm chung. Tôi hơi ngại không muốn mời, vì biết chị không thể nào nuốt nổi những hạt cơm như thế. Nhưng chị cười:
-Bây giờ ai cũng giống nhau mà, phải cố gắng “khắc phục” thôi.
-Nhưng chị khác, chị có “tiếp tế lương thực” từ bên ngoài, của Anh.
-Ừ, thì cũng nhờ đó mà chị đỡ khổ. Em đã biết anh mà, anh thương và lo lắng cho chị đủ mọi thứ từ ngày anh chị kết hôn, bây giờ xa nhau anh càng lo lắng hơn nhiều. Chị nhớ thương anh quá mà chưa biết chừng nào gặp lại?
-Nhưng em vẫn thắc mắc tại sao ngày đó chị không đi với anh?


Tự nhiên chị bật khóc, ban đầu chị hơi sụt sịt, bỗng chị ôm mặt khóc oà làm tôi phát hoảng.

Một hồi lâu như vơi bớt niềm u uẩn, chị vừa nói trong nước mắt.
-Cũng tại chị một phần. Chị hối hận lắm lắm. Buổi sáng hôm đó anh đi vào đơn vị, nhưng đã dặn trước chị mọi điều với tình huống xấu nhất xảy ra, nhất lá mấy ngày qua nhiều chuyến máy bay di tản gia đình vợ con Lính đi quá nhiều. Anh cũng lo sợ lắm, có điều không thể đem chị theo vào phi trường được, nên cứ dặn hờ, nếu có gì bất trắc xảy ra, anh sẽ về đón chị, lỡ không được nữa, anh sẽ đón bằng trực thăng nơi điểm hẹn.
Trước khi đeo túi bay lên vai, ra xe rồi anh vẫn còn dặn đi dặn lại chị phải đến đúng giờ ở chỗ hẹn gần nhà đèn có bãi đất trống, lại không phải là địa điểm quan trọng nên mọi người ít chú ý, nơi Trực thăng có thể đáp và bốc chị đi ngay. Nhưng chị cứ vùng vằng nửa ở nửa đi, cứ nghĩ đến Mẹ Cha đang từ ngoài kia chạy lánh nạn vào đây bỏ lại sao đành. Đến khi Má chị thúc hối đi nhanh lên gần tới giờ hẹn rồi, chị mới quyết định xách túi hành lý nho nhỏ nhờ thằng Tâm chở chạy, thì em ơi, đường sá nghẹt cứng rồi, em của chị lái chiếc Honda lách luồn rồi cũng đến nơi hẹn, nhưng đến để mà đứng chết trân, nhìn theo chiếc Trực thăng cứ bay vòng vòng trên đầu mấy lần mà không thể nào đáp xuống, vì số lượng người đứng chen chúc dưới đất quá đông, ai cũng muốn mình có một chỗ trên chiếc tàu cứu mạng đó. Để rồi cuối cùng chiếc trực thăng với tiếng kêu xành xạch, xành xạch sà xuống thật thấp rồi nặng nề buồn bã nhấc mình lên như đang bịn rịn, luyến lưu không muốn rời xa, nhưng bắt buộc phải nói lời từ giã với đám người đang la hét, kêu khóc, buồn rầu thất vọng đứng chật nơi đám đất nhìn theo, không hy vọng có ngày gặp lại.

Hai chị em chị ra về mang cùng một tâm trạng buồn lo và sợ hãi. Vừa lo cho anh và sợ hãi ở chính bản thân mình. Và những ngày sau đó thì cuộc sống chị em mình cũng có phần giống nhau. Đều là những người đàn bà độc thân tại chỗ, đều vắng xa chồng, vừa bương chải lo cho cuộc sống mới, có người phải lo nuôi con lẫn cha mẹ già, lại cứ phải dệt thêm bộ lông nhím bao quanh mình để tự vệ. Chồng em đi tù dù không biết ngày về nhưng biết phải đi, còn chồng chị đi đâu, về đâu, sống hay chết đều bặt vô âm tín. Mãi đến một hôm.
-Mừng quá trời chứ gì? Đoạn này em biết rõ, lúc Bác gái trong ấy về kể cho em nghe, khi chị được tin anh, chị mừng hét toáng lên thiếu điều bức tường nhà nức ra luôn. Chị cười hì hì, có vẻ bẻn lẽn thố lộ:
-Cha mẹ sinh lại chị lần thứ hai mà!. Suốt một thời gian dài như chết đi giờ sống lại mà không mừng hả? Lại được anh tiếp tế cho chút đỉnh để sống còn sao không vui mừng hả em?
-Lêu lêu vừa khóc vừa cười ăn mười….

Chị đập vào lưng tôi một cách trìu mến, người bạn đã chia xẻ buồn vui với chị trong thời gian khốn khổ vừa qua.

Đầu những năm 80, phong trào vượt biên nở rộ, cùng lúc có những cuộc ra đi rất huy hoàng của những gia đình có người thân nước ngoài bảo lãnh. Chị về lại thành phố ở luôn, vẫn liên lạc với anh và cũng nôn nao chờ đợi được gọi đi phỏng vấn để đoàn tụ với chồng.

Niềm hân hoan luôn hiện trên nét mặt. Chị yêu đời, chị xinh xắn hơn, chịu khó sửa soạn quần áo với những xấp vải ngoại của anh gửi về, một ít phấn son chị có cũng đem khoe với tôi, thỉnh thoảng chị biếu tôi chai dầu xanh, món quà quí hiếm thời đó làm tôi cảm động vô cùng. Bạn bè, nhất là những người có chồng đi tù về, nghèo xơ nghèo xác, rất ao ước và thầm mơ được ở vào hoàn cảnh của chị.

Bẵng đi một thời gian, chị đến nhà tôi, ngồi thừ một đống, như kẻ mất hồn, cặp mắt nhìn lơ láo, thất thần. Tôi không biết chuyện gì xảy ra, ngỡ ba má chị có chuyện buồn, nhưng phân vân chưa dám hỏi, vì đâu có nghe họ bị bịnh đau gì…
-Bộ Hai bác bên nhà có việc…?
-Không sao!
-Hai bác bình yên, em mừng, ủa bộ chị có chuyện gì hả?
-Mất sạch! mất hết! Hết thật rồi!

Tôi hốt hoảng, cứ ngỡ ăn trộm vào nhà chị. Nhất là mấy thời gian sau này, trộm cắp nổi lên nhiều lắm, người ta nghèo đói quá mà, cái ăn vẫn làm cho con người tốt trở thành xấu như lật bàn tay sấp ngửa. Nhớ những ngày “quân giải phóng” mới vào thành phố, người nào bị bắt vì tội ăn cắp vặt thôi chứ đừng nói vào nhà ăn trộm, cứ bị đem ra “xử bắn” ngay ngoài bãi biển, mặc dù có vợ con, cha mẹ quì lạy van lơn xin xỏ, ngay cả những người bị mất cắp cũng nhủ lòng thương lạy lục xin tha, vậy mà xử bắn vẫn là việc “bộ đội” đã nhẫn tâm làm. Một phát súng nổ, một mạng người ngã gục trước mắt nhiều người, thân nhân cũng không được quyền khóc. Người ta sợ sệt một thời gian, nhưng khi đói thì đầu gối bò đi …ăn cắp tiếp tục. Và nhà chị, có người thân ở nước ngoài chắc là mục tiêu của bọn họ. Nhưng không..
-Đồ phản bội! Đồ ăn cướp!

Ngồi nghe chị chửi mà không hiểu đầu đuôi gì cả. Chị chửi ai? Ai ăn cướp? chắc chắn không phải mình. Cuối cùng chị bật khóc, chị khóc còn thảm thiết hơn lần chị hụt chuyến bay anh đón chị năm nào. Thì ra, người chồng yêu quí, chị nôn nao chờ giấy bảo lãnh để chồng vợ có nhau, đã có người đàn bà khác sống kề bên thế chỗ, và đó lá lý do anh không thể nào làm đơn bảo lãnh cho vợ. Đúng là đoạn cuối cuộc tình bi thảm. Tâm tính chị trở nên bất thường và nói chuyện nhát gừng từ dạo đó.


-Nhà đẹp! có bãi cỏ cũng đẹp!
-Đẹp thì có, nhưng cũng cực lắm chị ơi, phải tưới nước bón phân đều đều. Chị mà lỡ để cỏ cao một chút là có giấy cảnh cáo gửi tới nhà ngay.
-Chắc đây là lần đầu và cũng là lần cuối được gặp lại em út, bạn bè. Nhờ các em, chị được mở mắt và nhìn thấy quá nhiều cái hay cái đẹp, sự văn minh tiến bộ xứ người, có điều….phải chi..
Tôi nghe có tiếng thở dài sau câu nói, vội đánh trống lảng:
-Chị đến chơi cũng gần đúng vào dịp Tết ta của mình, nên em xin nghỉ phép nguyên hai tuần luôn, sẽ đưa chị đi nhiều nơi để xem cho biết, và hưởng một cái tết xứ người, để xem chị có cảm tưởng như thế nào.
-Cảm ơn trước! tốt quá, ước gì…..

Một buổi tối, sau bữa cơm, chuyện vãn thế sự một hồi, tôi thấy chị cứ nhìn chiếc trực thăng đồ chơi (toy) mà chồng tôi để trên nóc tủ, chiếc máy bay vô hồn nhỏ xíu hình như đã đưa chị trở về một khoảng thời gian đẹp đẽ nào đó trong quá khứ, những kỷ niệm khó quên, nên chị đứng lên và ngần ngừ hỏi chồng tôi có thể cho chị được không? Chị mân mê món đồ vật vô tri rồi nói chuyện như đang nói với chính mình

-Tình ấy bay rồi! Tình ấy bay rồi! Hồi tưởng lại lúc được ngồi ké trên trực thăng do anh lái bay về nhà cha mẹ để ăn tết. Hãnh diện, lo sợ và thích thú làm sao! Những giờ phút được đi trên mây cùng anh. Biết đến bao giờ…?

Dù không muốn khơi lại nỗi đau trong chị, nhưng tôi cũng muốn chị có quyết định cuối cùng trước khi về lại chốn xưa âm thầm lặng lẽ sống chờ ngày nín thở xuôi tay. Tôi mạnh dạn đưa ý kiến:
-Chị có muốn gặp người ta một lần không? Em sẽ cố gắng tìm cơ hội, nhưng hình như bà vợ sau này ghen nổi tiếng đó.
Nín lặng một hồi, bổng chị bật cười, lúc đầu nho nhỏ, rồi cười khan làm tôi chưng hửng.

-Có thấy ai đi đánh ghen lầm chưa? muốn nghe kể không? Hình như chị cởi mở hơn trong lối nói chuyện so với ngày mới đến.
-Gì nữa đây, chị không đi đánh ghen thì thôi, làm sao thấy người khác? Tôi cũng vừa nói vừa cười.
-Chuyện trong khu cư xá Sĩ quan KQ hồi nẳm ấy mà. Vui lắm, cũng tại cái tên và giọng nói ba miền.
Hình như quá khứ gợi lại trong chị nhiều kỷ niệm vui, tôi khều thêm tâm sự:
-Hấp dẫn à nha, chị chứng kiến chuyện đó hả?
-Hồi đó có giờ rảnh, chị hay vào khu cư xá thăm vài người bạn. Một bữa đang ngồi chơi, thì nghe bên ngoài rần rần, có nhiều tiếng nói cười xôn xao, giọng mấy ông thì ít mà mấy bà thì nhiều, hình như mấy căn cư xá phía bên kia đều mở cửa chạy qua. Bọn chị cũng ào ra, thì mới hay có một vụ suýt…uýnh ghen lầm người, mà những “ hung thủ ” là quí phu nhân của các ngài …Pilot, vừa trở về sau trận chiến…không đánh mà bỏ chạy.

-Cái gì đi đánh ghen mà lầm là sao?
-Bốn bà, mặc quần “ống pat” đủ màu, áo thun bó sát người, chân đi đôi dép “sa-pô”. Tất cả ngồi trên một chiếc xe zeep do anh tài xế của ngài quan Tá nào đó làm việc bên quân tiếp vụ lái đi….hành quân, mà “chỉ huy trưởng” là bà vợ của quan ngài từ trong Sài gòn ra. Lý do: ông Tá tù ti tút tít với một nàng tên H nào đó. Nhưng khổ nỗi, vì bà nói giọng miền Nam, nên phát âm chữ H đầu thành chữ Q. Một pi-lot phu nhân lanh chanh, nghe ba chớp ba nháng, chỉ rõ trong khu cư xá gia binh bên trong cổng trại có người đàn bà tên đó. Thế là đoàn quân trực chỉ đi đến mục tiêu, quyết chí phen này tìm cho ra cái …“con khốn nạn giật chồng bà!” để tẩn cho một trận nên thân, cho bỏ cái tật giật chồng người.

Nhưng khi đến nơi gõ cửa với thái độ quyết chí “ăn tươi nuốt sống tình địch”, người nào cũng đứng chống nạnh xăn tay áo chờ đợi mần thịt con mồi, lành chớ ông Trung uý KQ chủ căn nhà mở cửa thò đầu ra giới thiệu tên Q. đây, hỏi chuyện chi mà ồn ào thế, cùng lúc bà vợ ông ở dưới bếp cầm con dao đang xắt thịt lở dở nghe ồn ào đi lên. Bà Tá thủ lãnh tái mặt, vì người trước mặt hoàn toàn không giống tí nào với người trong ảnh mà bà có, mà trên tay lại còn cầm con dao cứ múa tới múa lui. Bà Tá hoảng kinh bỏ chạy thụt lùi ra phóng tuốt lên xe, mấy bà kia cũng lót tót chạy theo thiếu điều sút dép. Trong khi ông Tr/U Q. thì không biết gì cả, ngơ ngác hỏi với theo với giọng miền Bắc: Này chuyện chi thế? Chuyện chi thế nhỉ?

Trời ạ, cũng tại cái tên bắt đầu bằng phụ âm H. đẹp đẽ mà mấy bà cứ gọi …cu(Q) tuốt luốt nên mới ra nông nỗi.
Bốn bà vừa kể lại cho bọn chị nghe mà vừa cười sặc sụa làm mọi người cũng cười theo gần bể bụng. ..Một chuyện đánh ghen để đời trong khu cư xá hồi nẳm.
-Hồi đó ở cư xá coi bộ vui quá chị há?
-Thời buổi chiến tranh mà, có chồng Lính mà không có việc chi làm thì phải theo chồng mà sống, không nhiều tiền thì xin cư xá mà ở. Lính nào cũng lo nhưng lính không quân bọn chị càng lo bạo. Buổi sáng tiễn chồng đi ra xe, có người cũng đi làm việc, nhưng có nhiều bà chỉ ở nhà chờ chồng, hồi hộp và lo sợ, lo sợ nghe báo tin …tàu vừa bị bắn! Nhiều lúc rảnh rỗi quá hổng có chuyện chi làm, nên cũng xảy ra nhiều chuyện vui lắm, nhờ vậy mà những giờ phút chờ đợi qua mau. Dĩ nhiên cái gì rồi cũng qua, chỉ còn lại tình nghiã sau bao năm tháng chất chồng, vậy mà…..

Nhìn chị ngồi nhớ lại chuyện xưa, tôi thật sự chạnh lòng. Tôi gợi ý muốn chị có một cuộc gặp gỡ với người đã bỏ quên tình nghiã lại đằng sau. Dù gì anh ta cũng ở trong thành phố này, cũng rất ăn nên làm ra. Bà vợ làm chủ một tiệm cắt tóc, ông trông coi một tiệm bách hóa không nhỏ với mấy người phụ giúp. Nhưng chị cứ vùng vằng, giằng co, lo sợ đủ điều.

-Tới đây rồi Chị lại không muốn gặp nữa. Chị không muốn anh ấy nhìn thấy chị sa sút như thế này đâu, không muốn…..
-Tại chị sống với …Việt cộng mà, cuộc sống kham khổ thiếu trước hụt sau, cũng phải lao động quần quật mới có cái ăn, làm sao so sánh với mấy người ở xứ văn minh, giàu có, dù phải làm việc nhưng vẫn sung sướng gấp trăm lần!
-Nhưng rồi gặp để làm gì? Anh ấy đã chọn con đường cho riêng mình, sống yên ổn với vợ con. Vơí chị chỉ còn là quá khứ, chắc gì anh ấy đã nhớ vì từ lâu lắm đã im bặt mọi thư từ liên lạc rồi mà.

Ừ nhỉ! chắc gì anh ấy đã nhớ hoặc có khi không muốn nhớ?. Ở đây, ngoài chồng chị, tôi cũng còn biết mấy người cũng trong hoàn cảnh tương tự. Ngày “tan hàng tháo chạy”, nhất định đòi leo xuống tàu trở về để gặp lại vợ con, sống chết có nhau. Nhưng rồi chỉ một thời gian sau, đã ôm tình yêu khác, mãi đến bây giờ, Vợ con sống chết ra sao không cần biết đến, vì người đàn bà sau cấm đoán, và ông thì …chìu vợ cho nhà yên cửa lặng, chỉ khi nào gặp bạn rồi uống rượu thật say mèm, mới gục đầu khóc và nhắc chuyện nhớ vợ thương con..

Với chị, trong nhiều thư viết cho tôi, vẫn ao ước có cơ hội gặp lại người chồng cũ một lần, để được gục đầu trên vai người mà… khóc cho vơi những nỗi niềm u-uẩn chồng chất bấy lâu. Nhưng khi đến gần thì lại như quá xa xăm, ái ngại đủ điều, lo sợ vu vơ, mặc cảm ngay cả sắc diện của chính mình. Còn lo cho người ta gặp khó khăn trong cuộc sống nữa. Thật khó hiểu.

Ngày tôi đưa chị ra phi trường về lại nhà Tính, để trở về quê hương sống nốt những ngày buồn bã còn lại mà lòng vẫn thấy nao nao.
Nhìn dáng chị đơn độc nhỏ nhoi lủi thủi bước đi qua lằn ranh giới hạn người đưa tiễn, tự nhiên tôi bật khóc. Thương cho hoàn cảnh chị, hoàn cảnh nghiệt ngã của những người đàn bà sinh nhằm thời chinh chiến, đến khi không còn lửa đạn binh đao lại bị chồng bỏ rơi một cách tức tưởi, nhưng vẫn ôm ấp hình bóng người xưa mà không một lời trách móc. Văng vẳng bên tai tôi là những lời cam phận chịu đựng của chị trước đêm từ giã: “….Cuộc đời này vô thường em ạ, có đó rồi mất đó, mỗi người đều có một số phận. Thôi thì số phận của chị chỉ hưởng được có ngần ấy ngày hạnh phúc với chồng, nên chị trân quí nó cho đến ngày nhắm mắt. Chị đến được nơi này, một lần, gặp lại các em và những người bạn thân tình, nhìn và thấy được những điều hay, nét đẹp, sự văn minh….,chị cảm thấy hạnh phúc lắm rồi, âu cũng có sự phò trợ của ơn trên. Kỷ niệm đẹp mấy rồi cũng chỉ là kỷ niệm, khơi lại làm gì khi vết thương liền mặt đã lâu . …Phải cố quên thôi, cứ coi như tình ấy đã bay rồi
Mùa Xuân 2011.
Ảnh internet

Thứ Năm, 25 tháng 11, 2010

TẠ ƠN

Ngày lễ Tạ ơn qua rồi trên đất Mỹ
Đọc bao lời thơ thú vị của Thi nhân
Lời tạ ơn đến tất cả những người thân
Đến bè bạn, ân nhân và ….Thượng đế!

Những mỹ từ được dùng nhiều vô kể
Những …ơn em như trời bể mênh mang
Ơn Mẹ cha lời cảm tạ muộn màng
Ơn Thầy giáo, ơn Quốc gia cứu nạn!

Những ân tình giúp ta khi hoạn nạn
Lời tri ân đâu phải đến hôm nay
Nhưng bởi ta đã ở đất nước này
Nên cảm tạ “Lễ Tạ Ơn” truyền thống.

Xin Tạ ơn tình người như biển rộng
Đến những người chiến sĩ chống quân gian
Những người hùng không quản ngại nguy nan
Để bảo vệ sự bình an cho đất nước.

Lời cảm tạ từ lâu chưa nói được
Tưởng dễ dàng nhưng vướng vấp tựa trèo non
Đại diện gia đình Mẹ xin Tạ ơn Con
Đến con gái, những đứa con yêu quí.

Con gái lớn, tâm hồn tràn nghiã khí
Tuổi vào đời, đã chọn nghiệp binh đao
Đời Lính gian lao, Con vẫn tự hào
Thay cha mẹ đáp đền ơn nước Mỹ.

Con gái út cũng noi gương cuả chị
Thiện nguyện giúp người tự ý từ tâm
AMERICORPS, những “chiến sĩ âm thầm”
Đem ánh sáng, ấm no cho người khốn khổ.

Lời Tạ ơn, Mẹ thành tâm thổ lộ
Đường các con đi mẹ ủng hộ hết lòng.
Ngày lại qua ngày Mẹ vẫn cầu mong
Cho thế giới HÒA BÌNH, người người HẠNH PHÚC!!!!

Xem trước

Thứ Năm, 4 tháng 11, 2010

MƯA CHIỀU








Mưa chiều tí tách rơi 
Gõ xuống những mạch đời 
Khơi lòng người viễn xứ
Giọt sầu lên chơi vơi 

Mưa chiều đường sũng nước
Đôi chân bước ngập ngừng 
Sợ đạp nhằm hồi ức 
Một chiều mưa xa xăm 

Mưa chiều, mưa lạnh căm 
Không gian đắp chăn nằm 
Dấu mình tìm hơi ấm 
Phố buồn, Người đến thăm  

Mưa chiều thật dễ thương 
Muá vũ khúc Nghê thường 
Bỗng trầm từng bong bóng 
Thành tình ca du dương 

Mưa chiều nép bờ tường 
Lén nhìn đôi uyên ương 
Chụm đầu cười rúc rích 
Chan hòa mộng yêu đương  

Mưa chiều buồn vấn vương 
Người từ giã lên đường 
Khoác vai màu áo trận. 
Ngăn cộng, giữ  quê hương.                

Mưa chiều ôi thê lương! 
Tin dữ từ chiến trường 
Oai hùng! Người chiến sĩ 
Hy Sinh. Đời tiếc thương 

Mưa chiều chốn tha phương 
Mưa xóa sạch bụi đường 
Có cuốn trôi tâm sự 
Nhân sinh cõi vô thường? 

Thứ Ba, 12 tháng 10, 2010

Ngày ấy, bây giờ















Tuổi trẻ đã qua một thời
Mong sao cho được cuối đời bên nhau
hạnh phúc , sung sướng, sang gìàu(?)
Cũng không níu lại được màu thời gian!

Thứ Hai, 11 tháng 10, 2010

Vịnh Văn Phong


















Đường về xứ Vạn xa xôi
Xin cho tôi gửi đôi lời nhớ mong
Hôm nào trên vịnh Văn Phong
Biển xanh, mây trắng mênh mông ngút ngàn
Quê ta biển bạc, rừng vàng
Dân nghèo vẫn sống cơ hàn quanh năm?




TÂM TÌNH
Vinh Hồ

Người Bà Con ơi xin đừng buồn nữa!
Nếu có buồn, chỉ một mình tôi thôi
Đừng buồn người ở tận cuối chân trời
Là Xứ Vạn, sông Hiền Lương êm ả
Cùng mạch đất băng qua đèo Cổ Mã
Chạy đến Hòn Hèo, Rọ Tượng, Cam Ranh
Vịnh Vân Phong, Dốc Lết nước trong xanh
Ngọn gió biển qua Nha Thành mát lạnh
Qua ngôi trường có con đường rợp bóng
Của những ngày xưa ba chúng ta qua
Mơ một ngày đất nước tự do, và
Quy cố quốc, gặp nhau ngoài bãi Trũ
Hay trên Vọng Phu có nàng chinh phụ
Chờ chồng sau một cuộc chiến tranh dài
Nhìn sông Dinh lờ lững giữa chiều phai
Rồi tấm tắt quê hương mình đẹp quá!
Nhưng chúng ta vẫn còn nơi xứ lạ
Nỗi buồn càng cao như núi, như non
Không đường về trong danh dự, hân hoan
Kiếp lưu lạc tím vàng mùa lá rụng
Sống lây lất từng ngày trong vô vọng
Mượn vần thơ buồn bã đổi thành vui
Sáng sáng, chiều chiều viết gởi đến người
Lại hy vọng, rồi âm thầm chờ đợi
Cảm ơn thơ, cảm ơn người, dịu vợi
Đã cho tôi tiếp tục sống, làm thơ
Để quên đi đời cơm áo ơ thờ
Và chịu đựng những mùa đông băng giá.
Vinh Hồ
11/10/10










Dưới chân đèo Cổ Mã

Thứ Tư, 6 tháng 10, 2010

Thơ TIỄN BẠN

TIỄN BẠN

Buồn quá! vừa nghe điện thoại nhà
Bạn hiền thuở nhỏ đã lìa xa
Người đi chốn ấy buồn thương tiếc
Kẻ ở phương này nhớ thiết tha
Tuổi trẻ hy sinh cho lý tưởng
Thân già cam phận chịu phong ba
Nén nhang khấn nguyện hồn siêu thoát
An lạc thân tâm chốn Phật Đà.
Lê thị Hoài Niệm

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

Bài xướng :NGƯỜI LÍNH GIÀ

BÀI XƯỚNG

Người Lính Già Chỉ Còn Ngọn Bút

Nửa đời gắn bó với quê hương
Thời loạn đem thân gởi chiến trường
Nếm mật bảo toàn từng tấc đất
Nằm gai trấn giữ chốn biên cương
Chẳng may nước gặp hồi mạt vận
Vô phước nhà lâm cảnh đoạn trường
Mất hết chỉ còn đây ngọn bút
Xứ người vầng nguyệt khói sương vương.


Vinh Hồ
3/10/10



BÀI HỌA

NGƯỜI LÍNH GIÀ


Giật mình, tỉnh giấc, kiếp tha hương (?)
Nhớ quá ngày qua giữa chiến trường
Oai dũng xua quân giành mảnh đất
Hiên ngang đuổi giặc trấn biên cương
Nhà tan thất thế ôi cay đắng
Nước mất sa cơ thật đoạn trường (NXV)
Chiến đấu thân già nhờ ngọn bút
Anh hùng há để tháng năm vương?

Lê thị Hoài Niệm

THU VỀ GỢI NHỚ



Hoa Tigon trong vườn














Quanh ta trời đất giao mùa
Gió thu nhè nhẹ khẽ lùa qua đây
Lung linh giọt nắng trên cây
Mơn man cành lá đơm đầy nụ hoa
Mây vờn tận phía xa xa
Trời như đứng đó nhìn ta mỉm cười
Xốn xang ta tự hổ ngươi
Chợt quên chợt nhớ mấy mươi năm rồi
Thời gian ta đã gặp người
Trăng thu năm ấy sáng tươi chừng nào
Vầng trăng lơ lửng trên cao
Giúp ta lơ lửng trèo vào tình yêu
Ngọt thơm như kẹo hạt điều
Vi vu như tiếng sáo diều chiều quê
Tìếng yêu thánh thót lời thơ
Mát như nước suối đón chờ tay tiên
Nhưng rồi, thoáng chốc mất liền
Để rồi ta khóc triền miên tháng ngày
Giờ này thu lại về đây
Gợi ta nỗi nhớ hao gầy con tim
Kiếp sau chắc phải đi tìm
Hỏi người sao nỡ nhận chìm tình ta?????



Lê Thị Hoài Niệm

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010

NGÀY VUI QUA MAU


Các bạn khóa 8, niên khóa 69-71












Thời gian vẫn làm cho người ta e dè, phải nhìn ngó lại nếu là một khoảng quá dài cho một đời người. Bốn mươi năm! Một con số thật lớn để những người bạn tuổi nhỏ năm nào phải ngỡ ngàng nheo mắt: Mày đó sao? -Ừ thì tao đây chứ ai! Mày lớp 4-tao lớp 2, tụi mình cùng chung một dãy nội trú đó..

Vẫn là mày tao mi tớ thân quen như những ngày xưa, lúc tuổi đời vừa đủ để bước chân vào ngưỡng cửa trường Sư phạm Qui Nhơn học làm Cô giáo!

Cuộc hội ngộ lần thứ mười chín tại nhà hàng Paracel của gia đình Sư phạm Qui Nhơn rất đông vui nhưng thật đầm ấm.
Ban tổ chức đã dành cho mỗi một khóa là một bàn riêng để các bạn tha hồ tâm sự. Từ các chị khóa một đến các em út của khóa 13. Con số 13 thật không may chút nào ở trường Sư phạm QN. Vì kể từ ngày đó, ngôi trường thân yêu đã thay tên, đổi chủ.











Khoảng không gian xa cách cũng làm cho những “cô giáo già mất dạy” phải ngại ngùng .Từ Houston sang Cali dự họp không là chuyện dễ, nên mười tám lần họp mặt của trường xưa, do các chị bên Cali tổ chức, những người ở xa như chúng tôi đành...chờ tin trên báo.











Nhưng kỳ này phải đi, chẳng lẽ những người bạn xưa phải vượt cả một đại dương đến được, mình chung một mảnh trời lại không thể đến được sao?. Tôi và Sửu, người bạn cùng một lớp đã về tham dự hội.
Hoàng Yến, cô bạn ngồi cùng phòng nhưng chỉ vào nội trú …chơi ké, đã đón chúng tôi đến Cali vào một buổi tối trời. Bạn bè gặp nhau chưa vơi tâm sự thì trời đã vào khuya.                                      



 

(Sương , Sửu, Dung , Tuyết)









Trời chưa bảnh mắt, Bích Ngọc-lớp 4, đã xuất hiện trước cửa phòng. Thế là nhập bọn, đi lòng vòng để chờ các bạn từ Bắc Cali xuống.Cuộc “tiền hội ngộ” bắt đầu khi Sương và Hạnh đến. Quào! người từ nửa vòng trái đất đến đây đâu khác kẻ ở bên này. Chị Hiếu- chị đầu đàn và cũng là cô giáo sư phạm thực hành, một thời bọn giáo sinh cũng sợ..sốt vó nếu đến giờ thực tập, nhưng hôm nay chị đến với đàn em trong tinh thần người chị cả bao dung, thân mật và dễ thương vô cùng, chị còn làm tài xế cho cả bọn thiếu…chân đi.

Buổi tối cả bọn còn gọi điện thọai về VN thăm hỏi những ngưòi bạn cùng lớp chưa có cơ hội gặp lại bao giờ. Kỷ niệm vẫn là những cuộc vui đáng nhớ!

Sáng chủ nhật, buổi hội ngộ chính thức bắt đầu lúc 12 giờ trưa ngày 22 tháng 8 năm 2010..









 





Nhưng mới muời giờ là cả bọn đã nôn nao mong đến nơi cho sớm. Ban tổ chức buổi hội ngộ toàn là những người đẹp. Các chị đương nhiên phải đẹp!!!Phòng hội trang trí rất lịch sự, đẹp mắt. Các chị lại làm văn nghệ rất hay, múa quạt, múa nón gì cũng nhuyễn như hồi còn trẻ(?), dù bi chừ đã là Bà nội- Bà ngoại, có người mau mắn đã sắp vào hàng Cố!

Có điều quí anh sao…ít quá, cứ y như rằng mái trường Sư phạm năm xưa chỉ toàn là nữ giáo sinh. Thực sự khi đi học, ngay khóa của chúng tôi, nam nữ đề huề,năm lớp bên nam và năm lớp nữ, nên mới có giờ học cộng đồng, một lớp nữ ..cộng với một lớp nam, nên có khi cộng luôn..chỉ số! Vì ít Thầy giáo, nên hình như bữa đó quí anh Vũ Hùng, anh Học (từ VN sang) và vài anh nữa lỡ …quên tên, coi bộ nổi giữ!

Đặc san năm nay in đẹp quá chừng, lại dày cộm (nếu tôi biết không sai, thì phu quân của chị An đã có công rất lớn?). Ai cũng có trên tay, nhưng người xa chúng tôi không đủ chỗ để mang về nhiều vì  sức nặng của hành lý hạn chế. Duy có cái màn chụp ảnh thì vô cùng thoải mái, tha hồ chụp, từng khóa, từng lớp, từng bàn, người nào cũng nhanh chân chạy đến trước ống kính để còn có mặt mình trong đó đem về làm kỷ niệm.Chưa kể đến màn “tìm nhau trong kỷ niệm”. Nơi đây đã có cả vợ chồng cô bạn Liên “ốc tiêu” thường được tôi qua phòng nội trú….tập hát. Ừ thì ngày đó hầu hết đều vào ở trong nội trú mà, tên nào có nhà cửa ở ngoài, lâu lâu cũng phải vào nội trú để tìm niềm vui.

Thôi thì kể đủ thứ chuyện, chuyện vãn râm ran, đi tới đi lui, đôi lúc cũng ..quên nhìn lên trên sân khấu xem đang diễn đến mục nào ( xin lỗi quí chị nghệ sĩ nhé!), nhưng khi bạn Sửu của lớp hai, khóa tám chúng tôi lên trình bày màn “Hò Huế”, thì bọn tôi nín thinh theo dõi, và vỗ tay cổ vũ quá chừng chừng, ồn ào cả một góc. Nhưng đâu có sao, tình chị em cùng trường cùng lớp lâu ngày gặp lại phải vậy mới nhớ đời chứ!

Tiệc nào rồi cũng tàn. Nhưng tàn ở nhà hàng thôi. Mỗi nhóm chúng tôi còn kéo nhau đi chỗ khác nữa. Các bạn thổ địa cùng khóa như Vân, Trang, chị Khải Anh(7), Hồng, Ngọc, Yến…, cả chị Hiếu nữa, đã không ngần ngại mang thức ăn, nước uống đến chỗ ở của chúng tôi để tha hồ nhắc về kỷ niệm.




Hồng,Vân,Khải Anh (K 7, Tuyết(đứng)Sương,Ngọc(đứng)Trang,Sửu





Những nụ cười vui không tưởng khi Vân kể chuyện ngày xưa đi dạy học gặp ngài …tỉnh trưởng đến thăm trường mà cứ tỉnh bơ. Chuyện Yến kể trong trường có anh chàng theo dính cứng. Các bạn kể lại chuyện trong nội trú có…ma, chuyện những buổi trực nội trú cứ phải chạy mỏi giò, chuyện làm văn nghệ rồi được nhà trường đưa sang bên …Hải đội hai duyên hải( căn cứ Hải quân) trình diễn, để rồi các cô có mối dây cột chặt với các chàng Lính của sông nước hải hồ, ….Đúng là mỗi người một chuyện, buồn vui đều có cả, cười ha hả rồi nín lặng người khi nghe đến quãng đời buồn của các cô giáo sau ngày thành phố đổi tên,  nước nhà đổi chủ!

Để các bạn S.và H. về lại quê nhà có dịp “nổ” rằng mình cũng đã đặt chân đến chốn ăn chơi nổi tiếng xứ Mỹ, chúng tôi đã đi xe đò Lộc đến Lasvegas, và anh chủ xe đò tử tế đưa thẳng đến khách sạn Palm’s. Dù là một tài tử nổi tiếng của Hollywood, hay mấy chị giáo già của trường SPQN ngày nào cũng được đối xử ngang nhau, miễn sao có tiền, dù họ có đi xe Limo hay chúng tôi với những cái túi xách nilông xập xệ.

 Nhiều người vẫn bảo nhau đến chốn cờ bạc là chỉ có nước ….đóng tiền đèn. Chưa chắc! Nhóm chúng tôi cũng …kéo máy như ai, vui quá chứ. Nhưng nhờ “thần bài tôi” nghiên cứu cách chơi, mà tiền vốn bỏ ra chơi mãi lại lấy về đủ vốn, đến nỗi mấy nhân viên sòng bài, nghe tiếng…tiền rơi rổn rảng liên miên, cứ ngỡ kỳ này chủ casino phải mất thêm ít bóng điện. Nhưng họ phải lắc đầu cười vui, bỏ đi chỗ khác khi nhìn vào máy, thấy mấy chị đàn bà Á châu này chơi chỉ có …một cent! Ha ha ha.





Hạnh , Sửu, Tuyết, Sương







Buổi tối lại có dịp đi xem đèn, đúng là thành phố ánh sáng. Rực rỡ như hoa đăng. Sang Paris hotel để nhìn bầu trời đêm trong khách sạn. Đi xem múa nước trong hồ, xem hải tặc cầm gươm …uýnh lộn. nhiều và nhiều cái hay và đẹp nơi đó.


Về lại nhà chị Yến(khóa 7) lúc đêm về. Chị là chị của bạn Trần Tuyết, cô bạn cùng lớp rất thân tình, lại cùng ở Nhatrang. Chị nhớ em và quí bạn của em mình. Chị lo cho bọn bạn em đủ thứ, chị nhẹ nhàng,dễ thương và sống thật tình cảm. Chuyện vãn đến khi mắt mở lên không nổi mới chìm vào giấc ngủ muộn.

                               

Tuyết, H.Yến, Sương, chị Hiếu, Hạnh, chị Yến.


Ngày vui qua mau! Có đến rồi có đi. Họp rồi tan là lẽ thường tình. Chúng tôi về lại nhà mình mà tình còn vương vấn. Nhớ Hoàng Yến , Bích Ngọc, chị Hiếu, chị Yến..bèn gửi lời cảm ơn theo gió gửi về thêm vài lần nữa. Những người bạn, người chị tử tế và thân thương vô cùng.

Dĩ nhiên phải cảm ơn các chị An, chị Lợi, chị Nghiã, chị Thanh, chị Thoa...., và các anh chị khác trong ban Tổ chức, hằng năm đã bỏ công sức tổ chức những buổi hội ngộ, để các anh chị em có dịp tìm về với nhau, kỷ niệm thân thương của những ngày xưa cũ vẫn là đề tài bất tận. Chuyện cơm áo bây giờ không thể làm phai mờ hình bóng thân thương của ngôi trường xưa và bạn các bạn Giáo sinh ngày cũ. Cho nên BTC không quên kêu gọi các bạn giúp đỡ những  Giáo sư, những đồng môn đang bị hoàn cảnh khó khăn , nghiệt ngã nơi quê nhà.

Xin cảm ơn tất cả. và nhớ mãi những ngày vui.