Thứ Tư, 22 tháng 1, 2025

 

 

THỜI GIAN

Lê thị Hoài Niệm

             


Hằng đêm, chàng vẫn thủ thỉ thì thầm qua đường dây điện thoại viễn liên, rằng tôi, chính tôi chứ không phải ai khác, người bạn tình hồi năm xửa năm xưa, đã là niềm vui, niềm hy vọng lớn lao trong cuộc sống hiện tại của chàng, nếu không tình cờ biết  được số điện thoại của tôi qua một người bạn, không biết bây giờ chàng sống ra sao(?). Thế là tôi nghĩ mình thành nhân vật quan trọng, và thảnh thơi hằng đêm chờ điện thoại của chàng. Nếu nhiều năm về trước, những cuộc gọi viễn liên, những buổi nói chuyện mãi hoài không dứt như chàng đã gọi cho tôi, chắc chắn tiền lương hằng tháng chàng kiếm được, sẽ  không đủ trả cho hãng điện thoại.

 

            Nhưng thời buổi bây giờ khác rồi, đường dây điện thoại cầm tay của chàng nói chuyện bất cứ nơi đâu trong xứ Mỹ mà chẳng phải trả xu nào, nếu sợ mỏi tay, chàng chỉ cần gắn cái sợi dây vào lỗ tai,  hoặc sang hơn chút nữa, gắn cái nút không giây vào cổ áo, có thể vừa…quét nhà vừa nói chuyện bình thường.

            Bởi điện thoại bây giờ tiện dụng như thế, nên bữa kia tôi đi vào chợ, gặp được người quen, từ xa thấy người cười cười, vừa cười vừa nói, mình  lầm tưởng người thân ái chào mình, bèn lớn tiếng chào lại, rồi lịch sự đưa tay cho người nắm lấy. Nhưng nỗi vui chưa đến thì nỗi buồn tiu nghỉu nhào theo, vì người đang nói chuyện với ai đó trên điện thoại, họ cười với nhau mà mình ngỡ vui vẻ với mình. Ôi cái điện thoại cầm tay hay “di động” chắc cũng đã làm tẽn tò nhiều kẻ như tôi?

 

            Dù biết chàng không phải là “người ngoài phố” và tôi cũng không là “bà Tám”, nhưng sao đường dây điện thoại viễn liên cứ làm việc hàng đêm và những buổi cuối tuần. Không biết chuyện ở đâu ra, nhưng chuyện vẫn bắt đầu từ chàng:

 

-Nhớ quá!

-Nhớ gì?

-Nhớ chuyện chúng mình nhiều năm về trước.

-Tất cả đã thành …dĩ vãng rồi.

-Không  đâu! Mình có thể là nhân vật chính trong “tình già” của cụ Phan Khôi ấy mà.

-Hai người gặp nhau, sợ rằng không đủ can đảm để nhìn…

-Người già trời đã cho mắt kém, mình đừng đeo kính, khỏi sợ!

-Nhưng mà..,  

-Không nhưng nhị gì hết, hãy tưởng tượng mình còn trẻ, và sống lại những ngày xa xưa cũ, ngày ấy …

 

            Chàng là Sinh viên sĩ quan không quân đang thụ huấn tại quân trường Nha Trang, vượt tiêu chuẩn để được tuyển dụng, nên rất “bắt mắt”, và chàng đến từ vùng đất Nam kỳ lục tỉnh. Chàng từng là “Tráng sinh” trong gia đình Hướng đạo, và tôi lúc đó là một “Sói già” (nhưng còn rất trẻ).

            Vì có thì giờ rỗi rảnh, nên tôi xin tham gia vào phong trào “Hướng đạo” với bạn cho vui. Hai ngày cuối tuần là thời gian sinh hoạt của gia đình hướng đạo, Đạo Kh.H chúng tôi, cũng là ngày chàng SVSQKQ được nghỉ, nên đã là cơ hội cho chàng tìm lại không khí sinh hoạt, vui đùa một thời làm “Tráng”. Chàng đã “thổ lộ tâm tình” khi đang giúp tôi đóng cọc dựng  lều cho bầy “sói con” trong một buổi lửa trại ở Tân Thành..

 

            “Dây thân ái lan rộng muôn nhà, tuy cách xa nhưng tim không xa…,” . Dĩ nhiên những giờ phút được thụ huấn trong quân trường là thời gian chàng cách xa tôi. Nhưng không sao, chúng tôi đã thuộc nằm lòng bài hát, và dây thân ái đã kết chặt đời chàng quấn ngang cửa nhà tôi vào những ngày giờ chàng có phép, chàng không còn là…con bà phước, nên khỏi phải đi lang thang ngoài phố để chờ giờ trở lại quân trường như một số sinh viên sĩ quan khác(?).

 

            Ngày chàng lên đường đi sang Mỹ du học lái máy bay, tôi cũng có một màn rơi lệ tiễn đưa, nhưng đưa sơ sơ ở vòng ngoài cổng rào, nơi mà chàng cũng thỉnh thoảng …trốn trại ra ngoài ban đêm để đưa tôi đi ăn, món ăn duy nhất là các loại “chè”, một điều chàng vẫn thường thắc mắc, tại sao không đi ăn một thứ gì khác như mì, hủ tiếu hay phở đêm, mà chạy lòng vòng vẫn là ..chè? từ ngả sáu cho đến dưới chợ Đầm, chỗ nào có quán chè nổi tiếng là có chúng tôi làm khách hàng. Chàng đâu biết rằng, tôi đã tập cho chàng tính…tiết kiệm, và cũng tiết kiệm dùm chàng, lương sinh viên ba đồng ba cọc, vì chỉ có món ăn bình dân đó, vừa ngọt ngào tình nghĩa, lại vừa ít tốn hao!

 

            Thư chàng viết từ căn cứ huấn luyện đầu tiên Lackland AFB trên đất Mỹ xa lạ gửi về, tôi sung sướng hãnh diện đem khoe cùng chúng bạn, những tên bạn học với tôi hồi năm nẳm, và cũng cố gắng viết dăm bảy tiếng Mỹ gửi lại cho chàng, nũng nịu chuyện nhớ nhung xa cách. Rồi lâu lâu không nhận được thư chàng thì viết bồi vài lá thư với 21 đồng tiền tem hồi đó …dọa rằng nếu chàng chậm thư, coi như không nhớ đến kẻ ở nhà, rằng chắc chàng đã có người yêu mới mắt xanh mũi lõ, thôi thì “sugar you –you go, sugar me-me go”, mà không biết rằng những ngày đó trên đất lạ quê người, chàng đang lo học sốt vó lên,  nếu không “pass” được phần anh ngữ, coi như không có dịp làm người hùng bay bổng, mà nếu may mắn thì sẽ được ở lại học về kỹ thuật dưới đất, còn xui tận mạng thì bị trả về nước làm lính rừng, dù rằng chàng có kể trong thư rằng thì là quí chàng cũng có cái màn “học tủ, học bùa”. Với lối thi “a-b-c-d ” khoanh, người thi trước tìm ra được câu trả lời chính xác, cứ tự nhiên truyền lại cho người thi sau những câu …thần chú phải thuộc nằm lòng ( dĩ nhiên có lần cũng bị tổ  trác). Với thư chàng gửi về lúc ấy, có một trong những câu thật buồn cười mà mãi mãi tôi không thể nào quên được đến tận bây giờ: “anh cu chiều buồn bã, cầm...chân cẳng dọc chơi, bỗng có ai cêu cửa, bèn chui ẩn dưới bàn…!”( a c c b b, c c c d c, b c a c c, b c a d b…)(có những chữ kém thanh nhã nên tôi phải đổi lại chút xíu)

 

            Gần một năm xa cách, chàng hiên ngang trở về nước trong sứ mạng “tài xế máy bay”, một “ người hùng không gian” và là thần tượng của nhiều cô gái mới lớn thời ấy, dù chưa biết chàng có  “chiến đấu oai hùng” hay lùng bùng …lạnh cẳng(?). Đơn vị đầu tiên chàng nhận sự vụ lệnh  lại là phi trường ở vùng đất BIÊN HÒA xa lắc quê tôi, một nơi chốn cũng trên quê hương Việt nam yêu dấu, nhưng muốn đến được nơi chàng, tìm chàng để tận tay trao tặng chàng “khăn ấm chính em đan” thì tôi không thể nào thưc hiện được, vì mẹ già sợ con dại ra đi bình yên mà trở lại chẳng yên bình, và chàng thì …không có phép?

 

            “Dây thân ái lan rộng muôn nhà” bây giờ thì là nhà người khác. Chàng đã là phi công hào hoa nên muốn giữ được chàng, nếu ở cạnh bên đã khó, huống chi thân tôi quan san cách trở dặm ngàn, từ Nha Trang đi xe đò vào Biên Hòa thăm chàng thì sợ bị Việt cộng phục kích dọc đường chết uổng mạng, nhất là qua vùng rừng Lá ở tỉnh Phan Thiết lúc bấy giờ. Mua vé máy bay thì…khó lòng lọt được vào quầy vé mà không có người quen, và chàng thì luôn bận …phi vụ, nhiều “phi vụ” về ngay Thủ đô Sài gòn mà bạn tôi ở trong đó đã có lần gặp và báo tin lại cho tôi. Nên tôi đã để chàng tự do bay xa và bay tuột khỏi tay tôi, từ một ngày đẹp trời gia đình tôi nhận lễ hỏi của người quen, để tôi khỏi làm “gái già gõ ra hột” như lời mấy đứa em vẫn thường chọc phá.

 

“Thân gái, người có hai bến nước, trong nhờ- đục chịu!”. Một sự chấp nhận kỳ khôi, chẳng công bình chút nào của ông bà từ thuở xa xưa, nhưng đâu bắt buộc đám con cháu hậu sinh nghe lời răm rắp, chúng tôi cũng đâu cần vũng nước trong veo để “tôi nhìn tôi trong nước”,  nhưng nếu đục quá chẳng thấy được gì hết trơn thì làm sao sống nổi?

            Và tôi, trong những ngày đầu xa vắng chàng Tráng sinh không quân, bây giờ là phi công phong nhã, nên buồn nẫu ruột. Nhưng rồi, tôi không phải là Hằng Nga nên chẳng thực hành được điều mà thi sĩ Tản Đà vẫn ca ngợi vị con gái của trời: “Hằng Nga bất nại bão phu miên” (Hằng Nga không chịu ôm chồng ngủ), gia đình tôi đã có thêm mầm sống, một gia đình nhỏ sắp sửa có người nối dõi tông đường người khác họ. Gia đình trong ấm ngoài êm, coi như may mắn lội được dòng …nước trong. Nhưng dòng nước gặp mùa nắng hạn, nước bốc hơi về Trời, bỏ lại tôi khô héo, già queo, bơ vơ đi nốt quãng đường trần nơi xứ người, để tình cờ chàng tìm thấy số điện thoại của tôi. Và tôi, dĩ nhiên tự do nói chuyện mà không sợ có người nghe lén.

 

            Từ chàng, tôi biết được chuyện chẳng êm xuôi, số chàng có sao “đào hoa” chiếu mệnh trong những năm tháng còn lả lướt trong từng chuyến …bay đêm, những ngày tháng chàng quên mất có tôi từng hiện diện trong trái tim non nớt của chàng một thời gian ngắn khi còn ở quân trường Nha Trang. Chàng cứ tự do lướt gió, tung mây, và thỉnh thoảng trong não bộ của chàng chàng ràng câu hát: “Phi công ra đi không ai tìm…xác rơi” cũng có làm chàng hoảng sợ, nên chàng tha hồ …mắc nợ. Món nợ khó trả của chàng đã đeo đẳng theo chàng qua bao nhiêu ngần ấy năm dài, không thể nào buông bỏ.

            Đến khi chàng trở về quê, cứ ngỡ ..“Rồi có  một ngày, một ngày chinh chiến tàn, anh trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất năm nao, như lời của nhạc sĩ TLN ước mơ trong “Một mai giã từ vũ khí”. Nhưng không, chàng đi tù mút chỉ cà tha, và “món nợ tình” của chàng không theo đòi chàng nữa, quăng trả cho mẹ chàng đứa con nít vô tội lên hai, con chàng, và nhờ cụ bà nuôi dưỡng.

            Số đào hoa của chàng đã bay trở về trời, sao thái bạch chiếu cố một thời gian làm chàng mất sạch bách mọi thứ, chỉ còn lại đứa con. Đến khi biết được chàng có sao “thiên di” chiếu mệnh, nợ đời của chàng trở về xin “nối lại tình xưa”. Tưởng rằng “Tình cũ không rủ cũng tới”, vả lại dù gì cũng có sẵn sợi dây ràng buộc, chàng cũng “ừ thôi.. em về với anh, như chim liền cánh , như cây liền cành..!”

 

            Đất Mỹ bây giờ khác xa đất Mỹ ngày xưa chàng đến. Ngày ấy buồn xa xứ, có, nhưng vui nhiều vì có bạn bè chung quanh, tuổi trẻ còn nhiều háo hức, nhiều lúc chỉ cần hai chữ “mi tu!” mà cả  đám bạn cùng cười nghiêng ngửa. Cũng bởi vốn tiếng  Anh chưa đủ, thấy thằng trước vào quán gọi món ăn, dù chưa thấy trước mặt dở-ngon-to-nhỏ-mỏng-dày, nhưng hễ đến phiên mình “order” cứ tự nhiên đáp gọn: “me too!” thế là sau đó mỗi tên một cái …LARGE PIZZA ăn chết bỏ, chừa cái tội mi tu!. Nhưng sau ngần ấy năm dài, chuyện đời thay đổi, tình người cũng đổi thay. Vợ chàng, sang xứ người lại tính chuyện …sang ngang..

            Bây giờ chàng đến xứ sở này theo diện tị nạn “tù nhân chính trị”. Tuổi đời đã cao lại phải bương chải kiếm miếng ăn để sống còn, sau lưng còn mang nặng cả một gia đình, hết rồi không khí của những ngày tháng “mi-tu”. Những ngày đầu thật vất vả để đi tìm việc làm, may sao nhờ bạn bè giới thiệu, chàng được nhận vào kéo dây trong một hãng điện tử, để vợ chàng có cơ hội đi học làm ..nail.

            Những ngày vui qua mau. Ở một xứ sở mà con nít, đàn bà được ưu tiên mọi thứ, nên chuyện đi sớm về trễ vì nghề nghiệp của vợ chàng, chuyện đàn bà phải sửa sang làm đẹp, đã kéo vợ chàng xa rời tầm tay với bất lực của chàng. Bây giờ người hùng không gian một thuở, nhiều lúc đã trở thành người…khùng trước mắt người vợ. Chuyện gì đến, đã đến, vả lại đứa con chàng giờ cũng đã lớn khôn.

            Đã mấy bận chàng về…thăm quê hương Việt Nam, ngoài việc viếng gia đình, chàng cũng muốn tìm nguồn an ủi khác như một số đàn ông muốn đổi thay (có một số vẫn đang còn vợ, chứ không phải rảnh rỗi như chàng), cũng có nhiều mối mai ưu ái, nhiều cô gái cũng mơn mởn đào tơ, nhưng chàng cứ ngần ngại, một phần vì “Tổ Quốc Không gian” xưa vẫn là niềm trăn trở không nguôi, niềm ưu tư còn lại là chuyện “cha già con dại”, lỡ mai kia mốt nọ chàng dắt vợ dẫn con ra đường, bạn bè gặp gỡ họ cứ ngỡ ông đưa con gái và cháu ngoại đi chơi thì…kẹt!!!

            Thế là chàng…quỡn, mới tự do nói chuyện hằng đêm cho đỡ  buồn.

            Chàng muốn đến thăm tôi ngay khi biết tôi đang thong thả như chàng, nhưng chuyện “tình buồn” từ những ngày xưa cũ vẫn còn lởn vởn lờn vờn đâu đó đã làm tôi khựng lại, chưa đồng ý để chàng làm chuyến du hành đến thăm, dù với tư cách “bạn già!”

 

            Trời Houston vào Xuân nhưng  vẫn còn  lành lạnh và ẩm ướt, làm những người có tuổi dễ dàng bị bịnh nhức mỏi, tôi vẫn “hăm dọa” chàng như thế. Nhưng cuối cùng, tôi vẫn phải đi đón chàng tại phi trường Hobby.

Không đến nỗi dặn nhau mặc áo màu gì, cài hoa trên tóc hay cầm bông ..hoa tím để nhận ra nhau, nhưng với chàng, tôi vẫn “khẳng định” rằng tôi cũng có nhiều thay đổi khác xưa. Đàn bà dù qua nhiêu năm tháng đổi dời, vẫn có thể …níu được thời gian nếu chưa quá đát, chỉ cần đến thăm Bác Sĩ thẩm mỹ vài ngày, kéo- căng- bơm- độn đầy đủ, giữ được “tuổi xuân” là cái chắc.

            Phi trường chỉ có một cổng ra, chuyến bay đã đến. Những người Mỹ trắng, Mỹ đen, Mễ, Đại hàn, Tàu Ta gì đều xuống chờ nhận hành lý. Tôi ngồi vào trong một góc quan sát, tránh sự nhầm lẫn không cần thiết. Nhưng sao trong đám hành khách ồn ào, nhộn nhịp kia không thấy một người đàn ông nào cho ra vẻ. Chẳng lẽ người đàn ông giống ông Tàu phù đang đẩy hành lý xách tay đi lẻ loi kia lại chính là chàng? Trông ông ta thật phốp pháp, vẫn còn thấy chiều cao nhưng sao thấy cái bụng chỉ huy cái ..ngực vầy nè, khuôn mặt rất đầy đặn, đôi mắt bị khuất lấp hơi nhiều, coi mòi hơi …quờ quạng, cũng hợp với vầng trán hơi thiêu thiếu tóc, nhưng vẫn còn màu đen (chắc mới nhuộm ?). Chẳng lẽ là chàng vì người đang rảo mắt như cố tìm ai.

 

            Điện thoại cầm tay của tôi rung lên cùng lúc tôi thấy người đàn ông đang bấm số. Vậy là đúng y boong chàng rồi! Ôi! người phi công hào hoa của tôi năm nào sao ra nông nỗi? Thời gian ơi! Sao mi khắc nghiệt, tàn phá người hùng của ta đến thế? Bây giờ thì tôi đã tin những gì chàng nói qua điện thoại hằng đêm: Chàng không còn giữ được hình dáng của người “Pilot” năm xưa, dù thỉnh thoảng chàng cũng có cầm vợt ra sân Tenis  (chắc tán dóc và lượm banh nhiều hơn đánh?). Vả lại cũng đừng phiền hà nếu chàng từ chối…. ăn chè như những tháng ngày còn trẻ, và cũng không dám đi ăn nhà hàng  nhiều  vì chàng đang kết bạn với bốn cao: Cao tuổi, cao máu, cao đường và cao mỡ!!!

Lê Thị Hoài Niệm.

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2025


Houston mà cũng...tuyết rơi

Nhìn thì đẹp lắm, chính trời vào đông

Nhưng mãi than...khổ trong lòng

Bao nhiêu cây cảnh đi ...đong hết rồi.

huhuhu....








 

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2025

ÔI THỜI GIAN.

Mùa đông …buồn, lạnh. Người có…tuổi phải trú trong nhà, không có việc cần thì không đi ra ngoài, chỉ gặp một cơn gió lạnh quét qua là cơn ho sẽ chụp lấy và cảm lạnh là chuyện khó tránh, nhất là lúc này cơn dịch …cúm cũng đang ẩn núp đâu đây.

Nằm gác tay lên trán, gẫm lại…chuyện cuộc đời, nhất là những ngày tết Tây đã qua và Tết ta sắp đến. Chuyện buồn, chuyện vui, chuyện ngày còn bé đến tuổi về hưu, nhớ nhất là những ngày còn long nhong cắp sách đến trường…và ngày được gặp lại Thầy Cô và các bạn học năm xưa trên xứ Cờ Hoa này, mới đó mà đã mười lăm năm trôi qua như…cơn gió.


Nhìn lại tấm hình ngày họp mặt lần đầu tiên, giọt nước mắt từ đâu giăng ngang tầm mắt, hình ảnh còn đó mà bao nhiêu người đã …ra đi về miền miên viễn, Thầy giáo lẫn học trò….


                                       Thầy Nguyễn Khoa Đằng, Thầy Lê Quang Khanh,Thầy..., Thầy Lê Ngọc Thiều, Thầy Nguyễn Đức Giang.





*Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Đức Giang, có tám năm làm hiệu trưởng trường Nguyễn Huệ-Tuy Hòa, Thầy bị tù cộng sản và vượt biên, rồi được xứ Đan mạch cưu mang. Chuyện ngày xưa còn bé, chẳng có …cơ hội gặp Thầy, ngoài những tên học trò có…lỗi, bị kêu lên văn phòng để Thầy khiển phạt. Nhưng bây giờ, Thầy rất gần gũi và thân tình với học trò xưa. Thầy cùng đứng trên sân khấu, cùng “hợp ca” với học trò mà vô cùng thích thú. Thầy đã hai lần sang…trú ngụ tại nhà chúng tôi khi đến Houston. Nhưng rồi Thầy đã ra đi năm rồi, để lại bao tiếc thương cho đám học trò năm cũ, khi hẹn với thầy sang Đan mạch thăm Thầy, nhưng mãi hoài không thực hiện được.

*Thầy Lê Ngọc Thiều, người đứng cạnh thầy Giang, Thầy cũng gắn bó với học trò năm xưa, lần nào hội ngộ cũng có Thầy Cô tham dự. Nhưng rồi Thầy yếu, phải vào viện dưỡng lão, tôi cũng đã đến thăm Thầy, Thầy trò kể chuyện cũ rất thân tình. Nhưng sinh lão bệnh tử chẳng bỏ sót ai. Thầy cũng đã ra đi chỉ còn Cô ở lại.

* Thầy Lê Quang Khanh, Tuy dạy ít năm, nhưng học trò xưa cũng quý Thầy lắm. Phu nhân của Thầy là chị…bạn, học trước tôi một khóa tại trường SPQN. Thầy bị bệnh đã hai năm và Thầy cũng đã ra đi vài tháng trước.

*Chỉ còn lại Thầy Nguyễn Khoa Đằng (cao nhất trong hình) Thầy và Cô vẫn khỏe và minh mẫn dù tuổi đã cao. Kỳ hè rồi tôi cũng đến thăm Thầy và Thầy trò nói chuyện cười vui…thoải mái, tôi nhắc lại những PPS mà Thầy đã bỏ công thực hiện nhiều hình ảnh cho cá nhân tôi. Học trò cảm ơn Thầy lắm lắm.

*Người đứng cạnh tôi bên trái là Lê Thị Hải Đường, bạn đã bỏ bạn bè ra đi mới đó mà gần 5 năm rồi. Ngày bạn bị bệnh, từ DC về Houston chữa trị, có thời gian ngắn bạn đến trú nhà tôi, vì hai đứa “đồng bệnh tương lân”. Những ngày được tôi tận tình “chăm sóc”, bạn vui và thật cố gắng để hy vọng vượt qua cơn bệnh ngặt nghèo. Nhưng rồi khi bạn về lại DC, chỉ tuần lễ sau, tin buồn đưa tới vào đúng ngày mồng một Tết. Buồn!

Ôi Thời gian! Cứ trôi đi ngày qua ngày …Nào ai biết được ngày sau sẽ …ra sao! Thôi thì được vui ngày nào hay ngày đó. Chuyện…nhớ thì đã nhớ, nhưng rồi cũng phải qua thôi. Tâm sự vẫn là…tâm sự, Mong cho khí Trời bớt lạnh, đi ra ngoài sống với cỏ cây, khỏi ngồi đây …nhớ hoài chuyện cũ.
Gửi kèm bài viết “Niềm vui trong ngấn lệ” hồi đó cho bạn NH nào …quỡn quỡn đọc lại chơi nhen..
Lê Thị Hoài Niệm.


NIỀM VUI TRONG NGẤN LỆ
Tôi rời xa thành phố Tuy hòa và trường trung học Nguyễn Huệ từ những năm giữa thập niên 1960. Vì hoàn cảnh chiến tranh thời đó, và với sự sinh động của một người tuổi trẻ luôn hướng tới tương lai, nên chưa có cơ hội tìm về trường cũ để thăm lại Thầy, gặp lại bạn cũ.

Rồi cuộc thế xoay vần đưa đẩy, bao nhiêu năm sống trên đất nước người, những sinh hoạt ngày còn nhỏ, thời gian cắp sách đến trường, với nhiều kỷ niệm của Thầy xưa, bạn cũ cứ thỉnh thoảng lại xuất hiện trong tâm tưởng, triệu chứng của những người có…tuổi, muốn tìm về quá khứ, những lúc đó cười vui hay buồn bã cũng chỉ mình ta biết, mình ta hay. May thay trong mấy năm gần đây, tôi đã bắt liên lạc được một vài bạn học cũ. Hy vọng, ước ao, nôn nóng có một ngày tất cả thầy trò hân hoan mừng rỡ tay bắt, mặt mừng trong một ngày Đại Hội, và ngày đó đã đến.

Chúng tôi đến Nam Cali bằng chuyến bay trưa ngày Thứ Sáu ngày 10 tháng 7 năm 2009. Anh Sang, người bạn cùng trường năm xưa, và tôi trực chỉ đến khách sạn đã được quí anh chị trong ban tổ chức sắp xếp (đến trước đó đã có quí anh chị Chi-Thịnh, Trúc- Ký cũng đi từ Houston). Nếu có thì giờ đặt sẵn một …camera thu hình, chắc chắn sẽ có được những hình ảnh trung thực, cảm động vô vàn. Vì ngôn từ, chữ nghĩa tiếng Việt dù có phong phú đến đâu, cũng không lột tả được những “niềm vui trong ngấn lệ”. Ở đó, nơi phòng tiếp tân đã có thầy Nhạc, anh Hiền, chị Chương, anh Nết , anh Bổng…., vui quá là vui, vui mà trong mắt người nào cũng long lanh giọt nước mắt. May quá không ai khóc thành tiếng để lấn át những tiếng cười dòn.

Cả một khu vực khách sạn, hình như chỉ dành riêng cho cựu Giáo sư và cựu học sinh Nguyễn Huệ mọi nơi đổ về. Đúng là một ngày hội! Xe cộ tấp nập, người chạy lên lầu, kẻ chạy xuống. Quí Thầy thì ở dãy phòng ngang, réo gọi, kêu nhau chuẩn bị đi đến nhà hàng để tham dự buổi tiền đại hội. Người ở địa phương Nam Cali có…bổn phận làm …tài xế Tắc xi (anh Đặng Ngọc Bổng bữa đó là người có đông hành khách nhất, vì chiếc xe MiniVan mới toanh, thật đẹp, to đùng, chở được nhiều người). Trước cổng nhà hàng đã có tấm băng-rôn: ĐẠI HỘI CỰU HOC SINH NGUYỄN HUỆ PHÚ YÊN 2009 sáng rực, làm người xa về thấy xao xuyến, rộn ràng.

Một Ban Tiếp Tân hùng hậu, toàn là những …“đẹp lão bà bà” muôn màu muôn sắc chẳng thua ai. Mọi người đi tìm lẫn nhau, trò tìm Thầy, Thầy tìm …trò? bạn cũ đi tìm nhau. Chụp hình, mục này là ồn ào hấp dẫn nhất, bao nhiêu là máy hình bấm lia bấm lịa, kèm theo tiếng cười, tiếng gọi. Ở nhà, ngoài xã hội, đa số đã là ông bà Nội Ngoại, nhưng ở đây cứ …mày tao, mi tớ ồn cả lên, hết chạy qua đầu này chụp hình, lại chạy qua chỗ khác như…con nít. Cứ cười lên, dù nếp nhăn có hằn trên trán, nụ cười có nhăn nheo một tí, nhưng nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ đó. Bạn tôi, hơn bốn mươi năm gặp lại, nhận ra nhau nhờ cái …bảng tên gắn trên bâu áo. Một chị Thu Cẩm, người đẹp kiêu sa dưới con mắt bọn con nít chúng tôi thời đó, bây giờ vẫn nhỏ nhắn xinh xinh. Anh bạn Khánh, khoẻ người tráng kiện nhờ đi bộ nhiều dặm đường mỗi ngày, đem tin vui và cả bill… đòi nợ đến cho bao người. Anh Xu, vẫn còn ốm tong teo vì mới sang Mỹ, có cả anh bạn Khóa. Chị Hoàng Mai vẫn yêu đời. Anh Lê Từ Như Lâm vẫn còn những bước nhảy điệu đàng thuở nọ….Ở đó, chúng tôi đã gặp lại quá nhiều Thầy cô giáo. Dù Thầy Thiều đang có bệnh, nhưng Thầy Cô vẫn theo học trò để ủng hộ tinh thần, đổ đường bằng xe đò từ miền bắc xuống miền Nam. Thầy hiệu trưởng Nguyễn Đức.Giang đến từ Đan mạch, Thầy Cô Đằng-Phương, Thầy Quỹ-Cô giáo Hiền (Việt nam sang), Thầy Cô Nhạc-Mai Hương(Canada), Thầy Cô Khanh-Thuỷ, Thầy Tùng, Thầy Luận….

Ban tổ chức thật chu đáo trong hai đêm họp mặt. Thật ra thì tiền đại hội mới là “đêm vui’ nhất, vì chỉ toàn Thầy giáo và học trò, khi giờ khai mạc mở màn, “ban hợp ca” cũng hay đáo để, “Nguyễn Huệ Hành Khúc” hùng tráng trong tiếng hát của cựu học trò…già (Cùng Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Đức Giang)
, cũng làm nức lòng những đồng môn có mặt.
Một chương trình văn nghệ sống động, toàn những tiếng hát chưa bao giờ…nổi lên, nên không lo chuyện…xuống (cả Thầy lẫn trò). Ấy vậy mà thính giả cũng vỗ tay vang dội khắp phòng. Món ăn tinh thần đã hay, mà ẩm thực trông qua thấy cũng ngon quá chừng chừng (nhưng người viết lo …chạy nhiều quá nên bị …đói) chưa nói đến những slideshow, ghi lại hình ảnh thời trẻ dại của cựu học trò gửi về, ngay cả thông tín bạ một thời trên lớp. Công khó của thầy Huỳnh Bá Củng, anh Phạm đức Hiền và vài anh chị khác.

Đêm Đại hội chính thức, những học trò và quan khách đều được ban tổ chức tặng món quà lưu niệm thật có ý nghiã: chiếc tách trà có hình vua Quang Trung, và hình trường Nguyễn Huệ với nhiều người đẹp đứng trước cổng trường. Trong khi quí Thầy Cô giáo được học trò kính biếu tấm plaque ghi nhớ công ơn. Xúc động làm sao khi quí Thầy cầm trên tay nâng niu hàng chữ : “Học sinh Nguyễn Huệ ghi nhớ công ơn Thầy…” Đã bao nhiêu năm rồi, các học trò xưa mới có dịp thể hiện tấm lòng biết ơn Thầy Cô giáo, dù có muộn màng, và không có mặt đầy đủ nhiều Thầy Cô giáo khác. Nhưng….! Sáng Thứ Bảy hôm đó, một nhóm nhỏ của chúng tôi, gồm có anh chị Chương-Nết, chị Hoàng Mai, chị Phương Vân, đã được “thổ địa” Ngọc Bổng đưa đi viếng cảnh biển tình. Biển đẹp, người xinh khí hậu mát mẻ, đã tăng thêm lực cho những trận cười của chúng tôi không dứt, cười đến nỗi “tài xế Bổng” chảy cả nước mắt trong lúc lái xe phải chầm chậm lại.

Cười nhiều hơn khi tôi bảo …“dừng xe, để tôi vào xem lại bên trong Hotel đã thiết kế theo đúng ý chủ nhân chưa, để tối nay tôi mời một số Giáo chức và cựu học sinh Nguyễn Huệ đến ở, và rằng đáng lẽ tôi đã đưa chiếc du thuyền lớn nhất thế giới vừa mới hoàn chỉnh vào đây, để cựu học sinh Nguyễn Huệ lên tàu làm tiệc khánh thành, mà cửa biển …hẹp quá nên không vào được, đành khất lại kỳ sau..” Đúng là Nổ banh xác, may mà chưa ai bị gì, chỉ bị cười đến chảy nước mắt.

Buổi tối Chủ Nhật, trước khi tan hàng: cố gắng, “nẫu dià xứ nẫu bỏ mình bơ vơ”. Chủ nhân Đặng Ngọc Bổng đã có hảo ý mời bà con về nhà ăn tối. Lại một trận cười “vô tiền khoáng hậu” xảy ra, cười đến chảy cả nước mắt. Đã bảo “niềm vui trong ngấn lệ” mà! Khi có một người khách “không mời mà đến”, bạn của chị Vân, cô ta đã “chấm” trúng vị chủ nhà, và thao thao bất tuyệt khen chủ nhà “đẹp giai, nói khéo” và không chịu…rời xa, chị Ngọc Chi còn xem tướng số, bảo rằng cô ta có...liên hệ với “người cõi âm”, coi chừng không khéo cả đám trong nhà bị vạ lây, trong khi chị Định từ từ tường thuật lại cuộc đối thoại ly kỳ, hấp dẫn giữa gia chủ và cô khách, mà chúng tôi vì ngồi xa không nghe được, thì anh Định và anh Thịnh từ bên ngoài chạy ùa vào, làm cho Mai Hương tăng thêm phần sợ hãi, lo cho Thầy Nhạc. Chị Thu Thuỷ thì lo cho Thầy Khanh, chỉ có Thầy Hiệu Trưởng Giang là không cần ai lo, vì ai cũng biết Thầy rất vững vàng trong mọi tình huống, báo hại bà chủ nhà phải …khóa cửa đi theo xe, khi gia chủ tình nguyện đi trước dẫn đường cho cô ta ra xa lộ.…hì hì hì…. Ngày vui qua mau, dù đã một tuần lễ trôi qua, nhưng trong tôi vẫn còn vọng mãi những tiếng cười , tiếng nói, tiếng gọi mừng rỡ của những người bạn đã từ lâu mới có cơ hội gặp lại. Và cũng từ ngày hội ngộ, chúng tôi lại có thêm những người bạn mới .

Dù cũ hay mới, tất cả đều đã có một thời gian ngồi dưới mái trường mang tên NGUYỄN HUỆ, vị anh hùng dân tộc bách chiến bách thắng, thần tốc đại phá quân nhà Thanh tan xác tan hồn trong thời gian ngắn kỷ lục.

Xin chân thành cảm ơn quí anh chị trong Ban Tổ Chức, quí Thầy Cô và các anh chị em bạn cũ-mới, đã cho cá nhân chúng tôi những ngày cuối tuần vui thật là vui, cười mỏi cả miệng.

Mong rằng, năm tới và nhiều năm kế tiếp, nếu có cơ hội, và nhiều anh chị em Nguyễn Huệ chịu …vác sừng voi, sẽ có những ngày đại hội thật huy hoàng, đông đảo hơn nữa, để những người ở xa thật xa cũng sẽ tìm về tham dự. “Tương lai gần, quá khứ xa”! nay còn –mai mất. Ai biết được ngày mai sẽ ra sao? Mong rằng kỳ tới sẽ gặp được nhiều anh chị em hơn nữa. Chừng đó, dù có vui mấy, chắc chẳng dám cười nhiều, sợ khóe miệng sẽ chạy tới mang tai!!!

Xin gửi tặng quí đọc giả Nguyễn Huệ một phần bài dân ca xứ Nẫu:
“Con Qvuịt (vịt) đua dứ (dưới) nước, Chớ con cá lậu (lội) bầu sen,
Hầu (hồi) rày mong gặp bạn qvuen (quen) quá chừng
Bầu (bồi) hầu (hồi) mà thương Phượng chớ nhớ Lon (Loan)
Thức thời thương nhớ chớ ngủ thời chim (chiêm) bao
Đặt mình trên tấm qvuán (ván) sao
Giựt mình thức dzậy chớ nước mắt trào như mưa…….”

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2024

 

LỜI CẢM ƠN MUỘN MÀNG

Lê Thị Hoài Niệm.









Tuyết rơi từ đêm qua đến sáng nay vẫn còn tiếp tục, những hạt tuyết mỏng manh bay bay trong nắng nhẹ, vậy mà vẫn ngập kín đường, ngập gần như nửa tấc, con tôi phải ba lần đi cào tuyết mà con đường trước cửa vẫn đầy sau chừng nửa tiếng đồng hồ tuyết rơi.

 

Nhìn ra đường vắng tanh không một chiếc xe qua lại, đừng nói chi người đi bộ. Thành phố này nằm ở độ cao hơn 7 ngàn bộ so với mặt nước biển nên rất lạnh về mùa đông. Vậy mà chiều nay, trước giờ gia đình tôi chuẩn bị bữa tiệc ăn mừng “Lễ Thanksgiving” thì ông bà Dawson đã đến, đúng như lời hứa với con tôi từ hai tuần trước, khi ông biết chúng tôi sẽ sang thăm con trong ngày lễ.

 

Con gái tôi gặp ông lần đầu ở bữa tiệc sinh hoạt của cư dân trong “subdivision”. Ông nhìn cháu một hồi lâu rồi đến gần hỏi cháu là “người nước nào “?. Ban đầu cháu ngạc nhiên, không biết tại sao ông  hỏi thế, nhưng cháu vẫn trả lời là người Việt Nam, và ông tự giới thiệu ông là “Việt Nam Vet” đã từng tham chiến ở VN đến hai lần. Sau khi biết cháu cũng là “cựu chiến binh Mỹ” nên ông rất vui và bắt chuyện hỏi han đủ điều. Và ngạc nhiên hơn nữa khi biết ba cháu từng là một Pilot trực thăng của quân đội VNCH, ông ta vui ra mặt và hỏi cháu rất nhiều chuyện sau đó, để biết rằng Tuy Hòa, quê hương của mẹ cháu cũng là nơi ông thường lui tới từ những chuyến hành quân. Có lẽ những gì có nơi chúng tôi có gợi cho ông nhiều kỷ niệm, nên ông rất muốn gặp chúng tôi. Và hôm nay ông đến nhà thăm chúng tôi đúng như lời đã hứa với cháu.

 

Ông dọn về thành phố Santa fe mới hơn ba tháng và thuê ngay căn chung cư gần nhà con gái tôi, đó là cơ hội cho ông gặp cháu và hỏi thăm về quê quán gốc nguồn. 

Cháu sinh ra trên xứ Mỹ, chưa biết gì về Tuy Hòa quê mẹ, chưa một lần đặt chân đến nơi đó, thế mà khi ông nhắc đến Tuy Hòa, cháu cũng tò mò muốn biết ông đã đi đến những nơi đâu. Thế là một già, một trẻ, cùng là “cựu quân nhân” trong quân đội Hoa Kỳ, một là đại tá Không quân, một là đại úy Hải quân, vào độ tuổi “cha con” nên ông không ngần ngại gọi cháu là con gái nuôi, vì ông bà chưa từng có tiếng khóc con nít trong nhà trong suốt mấy chục năm qua.

 

 

Trời bên ngoài lạnh lắm, nhưng trong căn phòng khách thật ấm cúng, ấm cúng vì có tiếng lách tách của ngọn lửa nhỏ từ trong lò sưởi lan tỏa khắp căn phòng, ấm hơn vì sự cởi mở trong câu chuyện trao đổi giữa hai người đàn ông, một Việt tóc muối tiêu, một Mỹ tóc bạch kim, hơn nhau vài tuổi đời cùng bên trời lận đận những tháng năm xa xưa đó, nên câu chuyện họ xoay quanh là những kỷ niệm chinh chiến, những con đường, những chuyến bay mà họ đã từng bay qua trên vùng lửa đạn tuy kẻ truớc người sau,... Đúng họ là hai người Lính cũ, cùng là những phi công trực thăng, từng phục vụ trong binh chủng không quân dưới bầu trời nước Việt từ những ngày xa xưa cũ. 

 

Ngày đó đơn vị ông đóng quân ở gần Tuy Hòa, đó là lý do tại sao ông tìm đến với chúng tôi, vì Tuy Hòa là một phần quê hương trong tuổi nhỏ của tôi, một quê hương bỏ lại vì chiến tranh giặc giã lan tràn, nhưng ở đó vẫn có quá nhiều kỷ niệm, Một con đường quê ngày ngày tôi đi học về, phải qua một cây cầu sắt dài có lề cho người đi bộ, mà mỗi lần xe hơi chạy qua là nó muốn hút mình theo. Ở đó có con sông rộng bốn mùa nước trải mênh mộng, chạy ôm luồn ngọn núi nhỏ mà trên đó có ngôi Tháp Nhạn của người Chăm xây dựng nên từ bao thế kỷ trước, đang đứng uy nghi sừng sững cho người lên cúng bái. Và nơí đó người đàn ông Mỹ đã mấy lần lượn vòng lên đó, để khi ông nhắc đến, chúng tôi cũng góp tiếng vào khiến ông vô cùng thích thú. Ông kể chuyện rất vui và ông cũng nhớ nhiều về kỷ niệm hơn một năm trời ông đóng quân gần thành phố đó. Vì dù gì cũng đã hơn năm mươi năm ông mới có dịp ngồi  gợi nhớ lại kỷ niệm, mà tưởng chừng như không bao giờ ông có cơ hội nhắc lại.

 

Phi trường Đông tác cát bụi mịt mù, phi đạo kép chỉ là những rỉ sắt kết lại mà thành. Nó nằm giữa một khu đồng không mông quạnh chỉ có toàn cây dương và dương, xa xa là vùng biển bao la xa ngút mắt. Nơi ông ở nguời ta cũng làm những căn nhà tiền chế, nên cũng đầy đủ tiện nghi, và vùng hành quân của những chiếc trực thăng thuộc đơn vị của ông và những người bạn khắp miền Trung và vùng rừng núi chập chùng, trùng điệp.

 

Có lẽ chúng tôi là người khơi dậy trong tiềm thức của ông về những chuyện hành quân gian khổ trên vùng đất xa lạ, vùng đất có những cơn gió nồm mát mẻ dễ chịu, nhưng cũng có những trận gió …nam lào nóng rát cả thân. Mùa hè đã nóng bức mà khi có những trận gió xoáy từ vùng núi đổ xuống, trên những đồi cát nóng, thật khó mà tả được nỗi vất vả chống trả khí hậu khắc nghiệt này.

 

Ngày ông sang Việt nam phục vụ, chồng tôi chưa vào lính. Nhưng những địa phương ông kể, sau này chồng tôi cũng bay trên những vùng trời đó, nên họ hiểu rất rõ những khó khăn, gian khổ. Ông nói ông thích nhất là vùng biển đẹp Vũng Rô, có nhiều khi ông bay ngang qua đó, dẫu biết nguy hiểm, nhưng ông cứ muốn bay vòng vòng và muốn đáp trực thăng và nhảy ùm xuống tắm vì nước trong xanh và phẳng lặng vô cùng. Những bãi biển ở Mỹ này, ngay cả bên vùng vịnh Mexico không thể nào so sánh được (?).

 

Tự nhiên chồng tôi lên tiếng nhắc:

-Ông hứa sẽ kể cho chúng tôi nghe chuyện tình của ông và người con gái Đông tác khi ông đóng quân ở đó.

Ông liếc ngang bà vợ, rồi làm bộ le lưỡi như không muốn nói, tự dưng ông cười thật sảng khoái và hỏi con gái tôi:

-Laura, ba cháu có kể chuyện tình của ông trong những ngày ông đi lính lúc chưa gặp mẹ cháu cho cháu nghe không?

Thế là câu chuyện xoay quanh những chuyện vui từ hồi xa lắc xa lơ, thuở mà ông mới bập bẹ học vài tiếng Việt để trao đổi với những người vào dọn dẹp phòng ốc cho những người Lính Mỹ xa nhà. May quá, ông không để lại mối tình lớn nào nơi đó, nên không có cảnh con lai đi tìm cha như những đứa trẻ cứ xuất hiện trên báo sau này.

 

Bữa “tiệc” chiều do mẹ con tôi dọn sẵn, không phải con gà tây nướng và những thực phẩm đi kèm như trong những bữa tiệc Tạ ơn của người Mỹ, mà chỉ là những món ăn Việt nam, nhất là chả giò và …nồi phở bốc khói. Vì ông Dawson thích hai món ăn đó nhất.

Ông vừa ăn xong vừa hít hà vì hơi nóng của tô phở bốc lên làm mờ đôi kính cận, ông tháo cặp mắt kính ra để lau và định nói câu gì đó, Nhưng chồng tôi đã lanh miệng hơn, chàng bắt đầu lời nói rất trịnh trọng khiến chúng tôi cũng hơi ngạc nhiên, nên ngừng lại chờ đợi.

-Chúng tôi vô cùng cảm ơn ông! Ông và bà Dawson. Lời cảm ơn rất chân tình tuy có muộn màng sau hơn năm mươi năm của một người Việt nam tị nạn cộng sản trên đất nước Cờ hoa này.

Ông Dawson hơi bỡ ngỡ khi nghe lời cảm ơn của chồng tôi, ông hơi ngập ngừng một chút rồi phá lên cười thật lớn.

-Le, ông nói gì vậy? Sao ông cảm ơn chúng tôi? Chúng tôi phải cảm ơn ông bà và cháu về bữa ăn “Happy Thanksgiving” chiều nay chứ!

-Không! Mỗi lần tôi gặp một người Việt Nam Vet nào, là tôi rất quý trọng và cảm ơn họ. Tôi cảm ơn ông và nhiều người Mỹ trai trẻ thời đó đã đến phục vụ trên quê hương chúng tôi, quý ông đã hy sinh quá nhiều, đôi khi cả tính mạng nữa, mà có người còn không hiểu rõ hết vì sao phải hy sinh ở một đất nước hoàn toàn xa lạ? Tôi cũng là Lính như ông, nhưng tôi vì bổn phận phải phục vụ tổ quốc mình, còn quý ông…! Làm sao chúng tôi quên ơn những người Lính như quý ông được.

 

Ông Dawson nín lặng không cười nữa, có một sự xúc cảm hiện lên khuôn mặt ông, ông nắm tay bà vợ và bằng một cử chỉ rất thân mật, họ đứng dậy bước sang phía chúng tôi, đưa tay ra nắm chặt lấy bàn tay của chúng tôi. Những cú siết tay không lời và vòng tay ôm thân mật mà vợ chồng ông Dawson thể hiện, là những lời nói tốt đẹp nhất trong mùa Lễ Tạ Ơn năm nay đối với gia đình chúng tôi.

Lê Thị Hoài Niệm.

 

 

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2024





Lê Thị Hoài Niệm và Gia đình thân chúc quý Cô, Chú, Bác, qúy Anh Chị Em và tất cả Bạn hữu một mùa LỄ TẠ ƠN thật đầm ấm bên gia đình.

THANKS GIVING! LỄ TẠ ƠN.


TẠ ƠN Cha Mẹ sinh con
TẠ ƠN Thủy tổ giang sơn quê mình
TẠ ƠN bạn hữu chí tình
TẠ ƠN Cô Bác, Thân sinh Ông Bà
TẠ ƠN Chính phủ Cờ Hoa
TẠ ƠN Bảo trợ, cho nhà, cho cơm.
TẠ ƠN Nhà giáo, Nông thôn.
TẠ ƠN Người biết bảo tồn quê hương
TẠ ƠN Chiến sĩ can trường
TẠ ƠN Con(của) Mẹ nêu gương đáp đền
TẠ ƠN Các Đấng Bề trên
TẠ ƠN cuộc sống vuông tròn chung quanh
TẠ ƠN mầm sống màu xanh
TẠ ƠN không khí trong lành ban mai
TẠ ƠN Ta vẫn còn đây
TẠ ƠN sức khỏe tràn đầy, an vui.
TẠ ƠN Người mãi bên đời
TẠ ƠN nắng sớm, chiều rơi nhẹ nhàng
TẠ ƠN nhưng dạ xốn xang
Thổ dân bản xứ không màng …Tạ ơn.
Ngày xưa tị nạn Pilgrims
Đói ăn, rét lạnh, héo tim đông về
Người Mỹ bản xứ cận kề
Mang thực phẩm giúp không hề “ta đây”!
Không nhờ bí, đậu, gà tây
Làm sao có được ngày này: TẠ ƠN !
Lê thị Hoài Niệm.

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2024

 

 

                     CHÚC MỪNG NGÀI TT TRUMP

 

Chúc mừng ngài Tổng Thống Trump

Cuối cùng ngài cũng ung dung bước vào

Toà Bạch Ốc đang đón chào

TỔNG THỐNG 47!. ôi chao là mừng!

 

 Chúc mừng người Mỹ thông minh

Chọn được Tổng thống tài tình, vì dân

Lo cho đất nước thịnh hưng

Kinh tế phát triển, biên cương vững bền

 

Quốc gia dân tộc đặt trên

Không vì đảng phái hay… bênh đàn bà!

Xứng danh nguyên thủ quốc gia

Thông minh, tài trí, xông pha chống chèo

 

Hoa Kỳ là gương sáng treo

Tụ Do! Dân chû người theo thực hành

Hết lo nước Mỹ tan tành

Bởi đảng “Dân chửi” điều hành bấy lâu

 

Bốn năm sẽ cũng qua mau

Chúc ngài Tổng Thống sống lâu, khỏe hoài.

Phó Tổng cũng chẳng kém ai

MAGA thẳng tiến tương lai dân nhờ.

 

Đảng lừa ơi hỡi đảng lừa!

Phá ai thì phá nhớ chừa Trump ra

Chúng bay chẳng giúp nước nhà

Chỉ lo bươi móc như gà …đói ăn.

 

Ra tranh cử, nói cuội, xằng

Chế độ xã nghĩa nhăn răng đói dài

Người Việt chạy sút dép rồi

Chúng đến đây nữa …trốn đâu hỡi trời?

 

Chỉ có cái bọn ma trơi

Đếch biết cộng sản hại đời dân đen

Chúng cứ rống họng lên khen

Mấy cụ “tị nạn” cũng hèn…chạy theo.

 

Bao năm hưởng được tiền nghèo

Ăn no rửng mỡ nên…teo não bò.(?)

Ngài Trump ơi! chớ có lo,

Dân tui cũng đã vote cho ngài rồi

 

Cái tật là bởi do Trời

Làm sao …sửa được khi người là Trump?

Lắm kẻ đã bảo ngài… khùng.

Con ngoan vợ đẹp ung dung hưởng đời

 

Cớ chi ra gánh việc người

Để cho chúng tức, chứng bươi xấu hoài?

Nhưng nếu mà không có Ngài

Làm sao dân biết đám tài phiệt kia

 

Âm mưu toa rập kết bè

Ăn gian nói dối bao che bạo quyền?

Chung quy cũng bởi chữ TIỀN!!!

Chữ DANH, chữ LỢI làm ĐIÊN con người !!!

 

Lê Thị Hoài Niệm.

Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2024

 Gần nửa thế kỷ rồi, nhân vật nữ chính đã thành người thiên cổ. Một nén nhang thắp muộn, nguyện cầu hương linh chị an vui chốn thiên đường...


        HUN HÚT ĐƯỜNG BAY

     

        Anh thương!

            Văng vẳng trên không trung là tiếng động cơ của chiếc phản lực đang bay xa dần thành phố, mang theo những người vừa rời bỏ quê hương thêm một lần trong đời, và có khi không còn dịp quay về lần nào nữa cả, cùng lúc mang theo một ít người lần đầu tiên được ngồi máy bay tìm đến vùng đất mới, để cho người ở lại muôn vàn nỗi nhớ thương, thèm thuồng, ước muốn. Như người bạn mà em vừa đưa tiễn ra đi, dù cô ấy khóc, nhưng giọt nước mắt lại lóng lánh niềm vui, cô ra đi theo diện đoàn tụ gia đình, một người đàn ông tốt bụng, tuy có hơi lớn tuổi, về quê nhà cưới vợ và đã làm đơn bảo lãnh cô ta đem sang xứ Mỹ.

            Em ra về hòa nhập vào lòng đường ngổn ngang, bận rộn. Người đâu mà đông quá, kẻ lên người xuống dập dìu, tấp nập, ồn ào không lúc nào ngưng nghỉ. Đủ mọi loại xe cộ chen lấn nhau, từ chiếc xe đạp cà tàng, chiếc xe Honda hai bánh, chiếc xe tải chất đầy hàng hóa, đến chiếc xe hơi đắt tiền mới tinh, tất cả đều tranh giành lối đi bóp còi inh ỏi. Bụi đất, khói xăng chờn vờn, lởn vởn đầy khắp không gian khiến những người đàn bà–con gái, thậm chí có những đứa nhỏ cũng bịt cả mặt mày, chỉ chừa có hai con mắt y như những tay võ sĩ NIN-YÀ trong phim kiếm hiệp.    

            Người đông, đất hẹp, nắng bụi, mưa lầy lội, nước lênh láng, dơ bẩn v.v.v., là những gì mà những người nghèo khổ, bình dân đang hứng chịu ở cái thủ đô này, nơi mà em vừa đến đây để tiễn đưa một người bạn ra đi nước ngoài, và cũng để chờ đón một người bạn từ xa về thăm lại quê nhà. Dù người bạn có vô tình than vãn: “sao bà ở chi trong hẻm để tôi phải tìm mãi mới tới được nhà?”, em chỉ biết cười nhưng cổ họng thì nghẹn cứng nên tiếng cười tắt lịm, để rồi sau đó một làn sương mỏng tự giăng ngang tầm mắt, đôi tay không lạnh nhưng cứ run run như người đang lên cơn sốt rét kinh niên. Em cầm phong thư trong tay nhưng hồn lại bay bổng đâu đâu, nửa tin nửa ngờ, nhưng cuối cùng cũng phải chấp nhận một sự thực phũ phàng. Em cố mở thư ra đọc và những hàng chữ thì cứ nhảy múa nhạt nhòe, dù với thật nhiều cố gắng, cũng phải một lúc lâu mới đọc hết được vài lời thăm hỏi ngắn gọn của anh. Ôi nét chữ thân thương quen thuộc ngày nào em từng ấp ủ, nâng niu, mừng vui, sung sướng mỗi lần người phát thư dừng lại trước cửa nhà để réo gọi tên em ra nhận thư xa, những bức thư viết từ những trung tâm huấn luyện Lackland Air Force Base, Fort Wolters, Fort Hunter… trên đất nước Hoa Kỳ xa lắc xa lơ, đến những lá thư gửi từ  khu bưu chính trên đất nước nhà khi anh thuyên chuyển về miền Nam, những lời thư nồng nàn ấp ủ yêu thương, những nhớ nhung tha thiết, những chờ đợi lo âu, những hứa hẹn tương lai sẽ có nhau trong đời, không bao giờ xa cách…

Nhưng mãi đến hôm nay, sau ngần ấy năm dài không nhìn thấy nữa, em lại nhận được lá thư tay này, lá thư do người bạn tìm đến trao tận tay, kèm theo một tấm thiệp cưới và hai tờ giấy bạc một trăm đô la Mỹ. Em mừng! mừng lắm anh ạ! nhưng hai hàng nước mắt cứ lăn dài xuống má, làm mặn cả bờ môi, làm chẹn ngang vòng khí quản. Phải chăng đây là một lần chợt nhớ từ ngõ ngách nào đó của trái tim anh còn sót lại? một xót xa; áy náy; một an ủi đắp bù? Và rồi em lại ngậm ngùi nuối tiếc: phải chi những đồng tiền này có thể mua được thời gian! Anh biết đó: “Thời gian, thời gian luôn vô tình đối với cuộc sống thế gian, nhưng lại dài vô tận đối với người mong đợi!”.Em vô tình nên chẳng nhớ được câu nói đó của ai.

Mới đó mà đã hơn một phần ba thế kỷ trôi qua, kể từ khi anh hốt hoảng tìm đến nhà em để từ giã ra đi, phi đoàn anh phải “di tản” sau một thời gian dài bị cuốn hút vào cơn trốt xoáy. Đã bao phi vụ “cứu lính, cứu dân”, cuối cùng anh cũng phải ra đi, anh đi xa vẫn còn ngoái cổ lại nhìn để thấy em chôn chân tại chỗ, ngẩn ngơ, ngơ ngẩn như kẻ không hồn, khi giật mình tỉnh ra, em đã phóng xe Honda chạy vội theo, dù đường sá lộn xộn, người chạy tới kẻ chạy lui tìm đường lánh nạn, lính từ xa đổ về thành phố quá đông, và nạn cướp giật, bắt hiếp đàn bà con gái đã xảy ra  ngay trên đường phố nên nguy hiểm trùng trùng. Vậy mà em cũng đã chạy đến nơi, đến để thấy cổng phi trường đóng chặt, để thấy cả rừng người chen lấn, dẫm đạp lên nhau, để nghe những tiếng la hét, kêu réo, khóc kể, hăm dọa, dữ dằn với nhau, để thấy mạng sống con người vô cùng nhỏ bé, thừa thãi trước họng súng đen ngòm, để thấy nỗi bất lực, tuyệt vọng khi người thân yêu phải chia cắt nhau chỉ có mỗi một cổng rào, và bàn tay thì quá ngắn để nắm lấy bàn tay. Em co ro đứng lặng nhìn những chiếc phi cơ rời bãi đậu cuối cùng đến hun hút đường bay, và cũng ngần ấy năm em cứ mỏi mòn trông mong dù trong vô vọng. Em biết! nhưng sao cứ mãi ngóng chờ.

Tấm thiệp cưới quá đẹp, anh gửi bạn mang về để báo tin sắp gả con gái lấy chồng. Em mừng cho cháu gái, cho hạnh phúc của cả gia đình anh, nhưng sắt se, tê dại cả cõi lòng mình. Kỷ niệm xưa không mời gọi sao cứ mãi hiện về, ước mơ nào không xóa sao đã vội tan, phải chăng vì những dòng chữ cứ hoài nhảy múa nên em không nhìn rõ, chỉ lờ mờ thấy được tên anh và những tên người hoàn toàn xa lạ, em đâu có muốn khóc, em sợ cả những giọt nước mắt dù tủi hờn hay nuối tiếc.

Cũng tại em ngày đó đã quá ngu ngơ, khờ dại, đã sợ sệt vu vơ, do dự trù trừ nên đã để vuột mất anh. Em đã không nỡ từ bỏ gia đình cha mẹ anh em, từ bỏ quê hương, để rồi chính trên quê hương, nơi từng cưu mang nuôi lớn em, đã giết em lần mòn trong lo âu, sợ hãi. Giờ còn lại gì ngoài một tấm thân tàn tạ và một tình yêu trống vắng? Dù em có gọi tên anh đến ngàn lần thì cũng là những tiếng kêu trong gió, có ngọn gió nào dài hơi giúp mang những tiếng kêu của em vuợt cả một đại dương, hay sẽ rơi rớt vào lòng biển cả?

Không biết vô tình hay cố ý mà người bạn ngồi kể cho em nghe về cuộc sống “đời thường” của anh bên đó. Người Pilot Trực thăng thuở nào, em đã rất hãnh diện được ngồi sau yên chiếc xe Honda cũ, cùng anh rong chơi khắp mọi nơi, khoe với bạn bè rằng “người hùng không gian” của ta như thế đó. Bạn nói anh bây giờ là “Ông chủ cửa hàng tạp hóa” nhưng em vẫn chưa hình dung ra nổi, cô ấy còn khen anh là một ông “nội trợ tài tình”. Em gặng hỏi mãi chỉ nghe được tiếng cười dòn và câu đùa : “số mày xui nên không được Ổng nấu cơm cho ăn hàng bữa!”.

Thật thế sao anh? Ngày đó, mỗi lần anh đến nhà chơi, những bữa cơm nhà em đã là điều mơ ước trong anh, em sẽ là người vợ đảm đang “cơm bưng nước rót” để bù với những bữa cơm nhà bàn trong những tháng ngày huấn luyện ở quân trường, và những gói gạo sấy, những gói mì nước nóng sau những hôm đi bay về muộn. Vậy mà…!

Bao năm qua em vẫn ao ước được biết tin tức về anh, hay mơ ước xa hơn là được gặp anh một lần trong đời, để được gục đầu trên vai anh mà khóc, mà kể lể hết những nỗi nhớ mong, những vui buồn đau đớn, xót xa tủi nhục trong những tháng ngày nghiệt ngã ở quê nhà, những tháng ngày các anh ra đi bỏ lại phố thị tiêu điều, hoang vắng. Em nhớ quay quắt những kỷ niệm trong suốt tháng anh hành quân biệt phái về đây, ngày nào cũng nghe anh kể chuyện, rằng các anh đã “bốc” không biết bao nhiêu người trên đường di tản về đến N.T. Có những hoàn cảnh thật thương tâm, có người sanh con rơi rớt dọc đường v.v.v., những Pilot trực thăng, “người đến bãi đáp đầu tiên và là người rời chiến trận cuối cùng” như lời anh vẫn tự hào về những phi vụ của các anh ngày đó, những chiếc trực thăng cũng là bạn của dân, nhất là những khi cộng quân nã pháo vào thành phố, tiếng “xành xạch”của trực thăng bay lên, làm người dân mừng rỡ, tin tưởng và vững lòng đi vào giấc ngủ muộn.

            Những ngày các anh từ giã ra đi, thành phố tiếp với nỗi đau mà người dân phải chịu đựng, sợ hãi từ những kẻ bên kia vừa la oang oang chiến thắng, để đến nỗi những người may mắn được ra đi cùng  một lượt với các anh, đã làm “lễ truy điệu” cho Thành phố đã chết, (khi họ về thăm lại chốn xưa đã kể cho nghe) trước khi cả nước bị chôn mất hoàn toàn.

            Nhưng thôi anh ạ! Dù tưởng rằng em đã chết mà không chết thật sự ngoài đời từ tháng Tư năm đó, thì trong anh, em cũng đã chết tự lâu rồi. Lời thư muộn hôm nay, với em, khác chi ngọn đèn dầu bất lụn chợt bùng lên và sẽ tắt ngấm tức thì…        

             Bây giờ quê em là mùa biển động, anh có còn nhớ biển Nha trang, nơi chốn một thời anh đã được thụ huấn và trở về đóng quân trước khi về miền Nam nước nổi?, Và đã bao nhiêu lần chúng mình hẹn hò nhau, nơi bắt đầu cho một mối tình của chàng SVKQ và cô nữ sinh áo trắng!.

            Ngày đó, những ngày thơ mộng nhất, đã bao năm qua em vẫn ấp ủ những kỷ niệm yêu thương như là những báu vật lớn nhất trong đời. Mỗi chiều về, nếu có chút thời gian rảnh em thường tìm ra bãi biển, để tìm lại dấu chân trên cát, để nhớ ngày ấy anh hay nhìn làn sóng lăn tăn vuốt nhẹ đôi chân trần, đôi bàn chân anh vẫn mân mê, ve vuốt và ước ao có một ngày, dù chỉ là lời dỗ ngọt bông đùa rằng “anh sẽ xây hồ bán nguyệt cho em vào rửa chân”. Anh còn nhớ không? và cũng đôi bàn chân ấy bây giờ em đang dẫm bừa lên làn cát mỏng, dẫm đạp luôn lên cả những hang ổ của con dã tràng, những con dã tràng cứ thích xây lâu đài trên cát, và anh thì thích nhìn em chạy bắt đem về nâng niu, vuốt ve, và thì thầm vào tai chúng “sao chúng mày quá dại?”

Em và con dã tràng hình như có quá nhiều điểm tương đồng, dã tràng vẫn kiên tâm xây lâu đài trên cát dù biết rằng chỉ  một cơn gió mạnh từ ngoài xa thổi vào, là lâu đài tạo dựng bao lâu sẽ đổ ụp tan tành, rồi bị dòng nước biển cuốn ra xa mất hút. Còn em, sao cũng một mình đi trên biển vắng để nghe đắng cay xé nát tim mình, em thích đến nơi này vào mùa biển động anh ạ! có mấy ai trọn tình lại thích nhìn biển dậy sóng bao giờ?...

lethihoainiem

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2024

 

Thu về nhớ người.



Líu lo chim hót ngoài sân

Hòa trong tiếng nhạc chào mừng sớm mai

Cành hoa rung nhẹ gió lay

Se se hơi lạnh mới hay Thu về

 

Thả hồn vào những vần thơ

Lan man nỗi nhớ đang chờ ai đây?

Lá vàng vắng bóng nơi này

Bước chân kỷ niệm hoạ may khơi nguồn

 

Nhớ người năm ấy qua trường

Đem Thu trao tặng người thương đang chờ

Nhờ Thu gửi lời hẹn thề

Chờ Thu sau đến ta về bên nhau

 

Nhưng bao mùa lá thay màu

Dáng xưa biền biệt úa nhàu tim côi

Người đi cũng đã đi rồi

Xuân qua hạ đến thu ngồi nhớ xưa.

 

Lê thị hoài Niệm