MỘT CHUYẾN ĐI-VỀ
Vị Bác sĩ “chăm sóc” sức khỏe cho tôi, ông “phán” một câu làm tôi …mừng hết lớn, khi tôi đến khám bệnh định kỳ và hỏi về chuyến đi: “chị có thể đi xa được rồi, nhưng nhớ cẩn thận, tất cả mọi thức ăn, nước uống đều phải nấu chín, không được ăn trái cây mỏng vỏ, tránh xa những nơi dễ bị nhiễm trùng, tôi cho chị thêm vài loại thuốc mang theo để ngăn ngừa …”. Thôi thì lúc nào đi được, cứ đi, chứ …biết đâu!
Tôi vẫn mong ngày về lại
Nha trang, trước là gặp những người thân trong gia đình, cảm ơn những thân tình
của anh chị, các cháu trong những ngày qua đã thường xuyên hỏi thăm an ủi, khuyến
khích, chúc lành và góp lời cầu nguyện cho bệnh tình tôi chóng khỏi. Và cũng là
cơ hội để gặp lại các bạn bè Sư phạm Qui Nhơn năm xưa, sắp tổ chức ngày hội ngộ
chắc là vui lắm.
Phi trường Cam Ranh ồn
ào náo nhiệt, không như những năm trước nghe đâu vắng tanh như chùa bà đanh. Đoạn
đường về nhà tôi hoàn toàn đổi khác, đường sá rộng rãi, nhà cửa hai bên đường
san sát, có nhà cao ngất ngưởng, đầy dẫy, đông đúc quá, người ta còn đang đào bới,
xây cất lung tung, ngay cả trong hóc núi hai bên đường. Cháu tôi, trên đường đi
đón tôi về còn giới thiệu thêm…hiện tình thành phố: “đất Nha trang bây giờ ở
đâu đâu cũng là đất vàng, chỗ nào rờ vào cũng đứt tay”. Chưa tới nhà mà đã nghe
muốn…xỉu, lại nghe cháu dẫn giải tiếp: “Người từ miền Bắc tràn vào,
có khi nguyên cả làng họ kéo vào đây hết!”. Thì ra là một sự “di dân” từ Bắc vô
Nam, chứ chưa hề có từ Nam ra Bắc(?) từ xưa đến nay. Thành phố Nha trang lại
càng khác xa hơn nữa, khách sạn nhiều tầng cao nghều nghệu chạy dọc suốt đường
biển mang tên vua Duy Tân năm nào, bây giờ đổi thành tên Trần Phú, tên của một
cộng sản gộc.
Đèn đường sáng choang,
xe cộ dập dìu chạy ngang xẻ dọc, xe hai bánh chạy loạn cào cào, xe bus dài
thoòng đậu san sát khắp nơi. Người đâu mà đông quá. Hóa ra, mấy lúc gần đây nhiều
người đã nói về sự “nhộn nhịp” của thành phố Nha trang không sai. Người Tàu đến
Nha trang nhiều vô kể. Họ được quyền “mua nhà” với giấy phép năm mươi năm của
chính quyền VN cấp, một thời gian dài để đủ cho họ “sinh con đẻ cái” và sống hợp
pháp trên lãnh thổ Việt nam. Nhiều khách sạn cao tầng họ cũng “thuê” hằng trăm
phòng, trả tiền trước và có khi…để trống khơi khơi. Họ đến Nha trang với diện
“du lịch không đồng”(?). Nghe nói là họ được chính phủ Trung cộng cho sang Việt
nam mà không tốn tiền vé máy bay, họ mua hàng hóa cũng từ “cửa hàng Trung cộng”,
đi ăn nhà hàng cũng của…Tàu luôn, nên có một số tiệm buôn ở Nha trang mang bảng
hiệu chữ Tàu, tất cả “phí tổn” khi về nước Tàu mới trả. Nói chung, là dịch vụ
buôn bán ở Nha trang do người dân VN làm chủ không có lợi gì cả, chỉ có…rác thải
từ những người Trung cộng ăn to, nói lớn, ở bẩn bầy hầy khắp mọi nơi…
Người Nga lúc trước đến
đông, chỉ thích tắm biển và tắm bùn. Nhưng lúc này ít đi du lịch Nha trang vì
ngại người Tàu cộng(?).
Nhưng, dù sao Nha trang
vẫn là thành phố thân thương trong tôi, thành phố có quá nhiều kỷ niệm để nhắc
nhớ của thời mới lớn và đi dạy học đang chạy đọc trong đầu.
Hình ảnh con phố lớn Độc
lập, Phan bội Châu,…những con đường chính trong thành phố vắt ngang qua khu chợ
Đầm hay đường phố Nguyễn Hoàng, Huỳnh thúc Kháng, Nguyễn Trãi ôm lấy khu chợ
Xóm mới năm nào, mỗi sáng chủ nhật rộn ràng trong nhịp thở của một thành phố
Lính. Đủ mọi sắc áo của Lính, của gia đình lính, đủ mọi loại xe cộ, từ chiếc xe
Honda đàn ông, đàn bà, đến chiếc xe jeep màu xanh, đến chiếc xe truck, xe nhà
binh…Thành phố rộn ràng đón người Lính từ các Quân trường ra nghỉ cuối tuần,
đón người Lính từ chiến trường về dưỡng quân nơi thành phố, đón người yêu, đón
gia đình của Lính từ khắp cả đất nước về thăm viếng người thân. Người thành phố
cũng rộn ràng cuốn theo nhịp thở vui nhộn, bừng bừng sức sống vươn lên từ những
trái tim yêu dù hoàn cảnh đất nuớc có ra sao…
Xa xa một chút bên vùng
biển Bãi dương, những hàng dừa cao rũ bóng ngã dài xuống bãi biển dẫu còn hoang
sơ, nhưng vùng nước không sâu, chỉ là còn nhiều rong rêu trôi lềnh bềnh trên những
đợt sóng nhấp nhô đang muốn tấp vào bờ, nhưng vẫn là nơi tắm lý tưởng cho những
ai muốn xa rời thành phố một thời gian ngắn.
Rồi đến Hòn chồng, một
thắng cảnh nổi tiếng của thành phố Nha trang, nơi có năm ngón tay in rõ hình
trên vách đá, dấu tích của một thời mới khai sinh lập địa, có những hóc đá …trữ
tình, có lẽ nhiều người chui vô trú nắng nhiều quá, nhất là những “đôi tình
nhân” nên mặt đá nhẵn thín, ngồi êm ru. Muốn đến được nơi này, phải đạp xe lên
một đoạn đường dốc dài (hay đi xe lam), nhưng thú vị lắm, phải leo qua những cụm
đá, phải dẫm chân lên những vũng nước mà leo qua đá chồng đá chất mới đến ... sờ
được mặt đá “Hòn chồng”.
Phố biển chiều
hanh nắng, dưới bóng những khóm dừa lả ngọn, là hình ảnh của những nhóm người
trong gia đình, trải tấm nhựa dài và cả nhà già trẻ lớn bé quây quần chia nhau
nắm xôi, trái cốc ngâm, rồi cùng nhau nhảy ùm xuống nước biển, đùa giỡn với sóng
nước mênh mông … Hình ảnh những người Lính ngồi trong quán nước bên ly cà phê,
mơ màng nhớ về người yêu nơi xa xăm nào đó, hình ảnh bác xích lô chụp mũ lên mặt
ngủ một giấc dài trên chiếc xích lô đậu ngoài mé biển, hay chiếc xe đẩy hàng
rong với mớ cốc ổi ngâm nhem thèm bọn con gái, chiếc xe cà tàng bán đu đủ bò
kho cho bọn học trò trai nhao nhao chờ đến lượt…
Bãi biển ít người im ắng,
nhưng thơ mộng ngay những lúc xế trưa đó, tất cả đã đi vào dĩ vãng…xa rồi và có
lẽ ngàn đời sau không bao giờ tìm lại được!
Nhớ lại con phố nhỏ
năm nào từ những ngày ở Nhatrang, sao lòng thấy nao nao buồn muốn khóc.
Từ khi dời nhà từ
đường NguyễnTrãi sang Phù Đổng Thiên Vương, con phố nhỏ thật yên bình, thân thiện
như bà con một nhà của những người hàng xóm láng giềng. Cạnh nhà tôi bên trái
là khoảng đất rộng của nhà chú Tư, vợ chồng chú là người từ Quảng Ngãi vào Nha
trang lập nghiệp từ lâu lắm. Khi đó đám đất hãy còn trống trơn và chú thiếm đã
dựng lên ngôi nhà hai tầng khang trang với gia đình có một đứa con trai độc nhất,
thằng “cu Tài”. Chú thiếm “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa” cả xóm ai
cũng trầm trồ khen thằng nhỏ “tốt phước”, dù chú thiếm chỉ là những công nhân
bình thường.
Sau lưng nhà là cả một
vườn cây ăn trái của “Dì Bảy Đọt”, vì lấy tên của người con trai lớn đang là
Lính không quân phục vụ trong sân bay, cậu chàng cũng đờn giỏi hát hay nổi tiếng
trong xóm. Căn nhà nhỏ xinh xắn nằm gọn trong vuông đất rộng cả mẫu tây, nên Dì
dượng trồng rất nhiều cây ăn trái, vì nó không nằm ngoài mặt đường, nên muốn
vào nhà phải vào bằng một con hẻm, nhưng đâu có sao. Nhà trồng ổi nhiều lắm, có
một cây tàn rộng phủ qua hàng rào nhà tôi, phủ lên cả một hồ đựng nước, nên cứ
mỗi xế trưa, tụi tôi tha hồ leo lên cây ổi mà hái trái chín mơn mởn, với một nắm
…muối ớt cay cay, mặn mặn để thanh toán ổi thơm tại chỗ thật …tuyệt vời, lôi cuốn
rất nhiều tên bạn đến tham gia hái ổi ..trộm nhà hàng xóm.
Và đối diện
là nhà của “bà Bắc” bán chạp phô, tiếng gọi thân thương dù bác ấy đã lớn tuổi rồi.
Bác trai làm Thượng sĩ trong quân đội nhưng nuôi cả một đàn con trai gái đủ đầy,
có hai anh lớn làm đến chức Thiếu tá trong quân đội VNCH, những bạn gái cỡ tôi
đều xuất thân từ trường sư phạm.
Cạnh bên là nhà của Thầy
giáo Ng. năm nào cũng …sản xuất thêm nhân số, đứa lớn đứa bé gì cũng ở trần
trùng trục, mạnh khù khù cứ chạy u ra trước ngõ, để vợ của Thầy phải bưng chén
cơm vừa chạy vừa kêu tên mấy đứa nhỏ, mà chúng tôi cũng chẳng nhớ hết tên luôn.
Bên cạnh là nhà “ông thợ sắt”. Thật ra chú là người của dòng dõi vua chúa di cư
vào đây, hình như là anh em của ngài…Vĩnh Thụy thì phải, vì chú cũng có họ
Vĩnh. Mấy người con trai của chú trắng trẻo, nhẹ nhàng như con gái, nhưng không
phải…đối tượng của con gái xóm tôi.
Nhà ông Huế thì có nhiều
phòng cho thuê, từ Đại hàn, Mỹ, đến cảnh sát, quân nhân ta, hay những người độc
thân…tại chỗ, nên tấp nập người đến kẻ đi, vui lắm lắm.
Chung quanh xóm
nhà nào cũng quen biết, thân tình với nhau. Nhà thiếm Hai kế tiếp rất đông con,
chiều nào chú hai cũng lùa cả đám con leo lên chiếc pick up truck mà chạy về tận
thôn Đại điền thăm nhà từ đường của chú. Tháng nào có người em từ trường võ bị
Đà lạt về thăm, cả xóm cũng “ăn mừng” theo với gia chủ, và cũng là “đề tài” để
đám con gái trong xóm bàn tán, khen chê.. Nhà chú Thông bên kia có tiệc vui gì
cả xóm cũng được biết.
Nhà “bà Quận” với
mấy cô con gái rượu suốt ngày ngồi xe jeep, được “ông Lính biệt phái” chở đi tới
đi lui đủ chỗ đủ nơi, bữa nay đang làm tiệc…đón chàng rể nào cả xóm cũng được
tin. Ôi cái xóm nhỏ mà vui, chia xẻ buồn vui trong cuộc sống đời thường, ngay cả
những buổi kêu mời nhau đến “dự đám giỗ” của một nhà trong xóm, mà bọn nhỏ
chúng tôi hay hát đùa: “Tai nghe có đám giỗ gần, trong bụng bần thần chẳng
muốn nấu cơm” cho đến những ngày đầu tháng tư của năm 1975, ngày “tang
thương” của cả thành phố và những người trong khu xóm nhỏ.
Ngày đó xóm nhỏ vẫn
còn tồn tại, dù người đi đã đi, nhưng những căn nhà chưa hề đổi chủ, tuy có mấy
căn nhà lớn bị “chính quyền mới” vào tịch thu đề làm văn phòng hành chính mới,
nhưng vẫn còn đó những trao đổi thân tình, những quan tâm thăm hỏi về những khó
khăn, những chịu đựng nhọc nhằn đang đổ oằn trên vai những người thành phố bởi
đám người “giải phóng miền Nam”! Những ngày tháng tư đen tối hãi hùng đổ ập lên
đầu cả những người dân hiền lành ở những phần đất đã bị “quân giải phóng” chiếm
đóng. Và xóm nhỏ nhà tôi cũng không ngoại lệ. Ba má tôi khóc hết nước mắt vì
hai người con trai, một đại uý ở bộ tổng tham mưu, một đang học tại Sài gòn
không hề biết tin tức gì cả. Những người bà con lánh nạn vào ở trong nhà đã về
lại quê ở Phú yên, và người cháu gọi má tôi bằng dì đã bị “quân giải phóng” bắt
và chặt đầu chỉ vì từng làm “xây dựng nông thôn”. Mấy người con còn lại thì cứ
phải “đi lánh nạn” bom đạn từng đêm từ những ngày đầu tháng tư năm đó.
Nhà bà Bắc trước cửa giờ
chỉ còn lại bác trai với vợ chồng người con gái thứ. Bác không đi tù vì không
phải sĩ quan. Bác buồn bã suốt ngày không nói một câu, cứ đi ra đi vô thở dài,
ngay cả ba tôi có hỏi han Bác cũng không buồn nói. Những ngày tháng mà người
Nha trang phải chịu những trận “bom” từ những chiếc máy bay, bay đến thả những
trái bom tấn chết người vào ban đêm do phía những người Lính ...quân
mình! Bác buồn bỏ cả ăn uống và trút hơi thở cuối cùng mà mắt mãi không chịu…nhắm.
Lúc chúng tôi hay tin chạy sang nhà, để chứng kiến giờ phút lâm chung của bác
mà không cầm được nước mắt, vì bác cứ nấc lên từng cơn, như luyến lưu điều gì
mà uất hận không nói được, đến khi tôi và người con rể của bác phải “năn nỉ”
Bác hãy buông xuôi mà thanh thản ra đi về một nơi chắc không có chiến tranh giặc
giã nữa, và những người thân của bác chắc không về gặp được bác đâu…, lúc đó
bác mới từ từ nhắm mắt xuôi tay. Nỗi buồn chi mà buồn lạ buồn lùng khi người đầu
tiên trong xóm tôi ra đi mà không có đám tang cho đúng nghĩa.
Trong khi cái “ủy ban
quân quản” suốt ngày cứ ra ra cách mạng này cách mạng kia với bảy điểm gì đó với
cái giọng chanh chua chát chúa, nghe lạnh sống lưng của những người miền Bắc, từ
những cái loa bắt cùng khắp trên các trụ điện chỉa thẳng vào nhà dân mà chưa chắc
người nào muốn nghe, thì sau lưng nhà tôi, giọng ca và tiếng đờn của Đọt cứ
vang lên, nhiều khi nghe réo rắt, có lúc u uẩn xa xăm. Rồi Đọt hát những bài ca
tiếng Mỹ, dĩ nhiên có bài chúng tôi chưa từng nghe qua, nhưng sao nó như xoáy
vào tận ruột gan…
Nhưng rồi, một buổi tối
cả xóm tôi ồn ào và cùng chạy tới “trụ sở khóm” là nhà ông bà cảnh sát đã di tản,
để thấy Đọt bị công an đánh tới tấp vào lưng, vào mặt mà không hề kêu la đau đớn
gì cả. Thì ra Đọt đã làm một việc mà chắc không ai làm được, anh chàng đã “leo”
lên tận sân thượng nhà bác Từ Vân và đứng hát trên đó, dù không biết Đọt đã leo
bằng cách nào? Vì trên tường nhà không có cầu thang. Rồi “cách mạng” cũng phải
thả Đọt ra vì không “điều tra” được nguồn tin phản động nào. Sáng hôm sau thì
bên trường học, đã chứng kiến một cảnh tượng chưa từng có. Đọt đã “ngồi vắt vẻo”
trên trụ cờ bé tí xíu, và đang xé cờ “mặt trận giải phóng miền nam” nửa xanh nửa
đỏ đang treo rũ rượi trên đó, bên dưới là một đám công an la lối om sòm, và bọn
học trò nhỏ thì bàn tán xôn xao như cái chợ, vì không hiểu làm sao mà Đọt leo
được lên tới ngọn, khi mà cái trụ cờ bé tẻo tèo teo. Đọt “điên” từ đó và bị cột
chân vào gốc dừa thê thảm lắm, đến mấy năm sau mới mất…Thương lắm.
Nhưng đó là chuyện
dĩ vãng xa rồi, có nuối tiếc cũng chỉ là nuối tiếc.
Dù tất cả đã xa, nhưng
có một nơi vẫn tồn tại để các bạn Sư phạm Qui Nhơn của tôi tổ chức họp mặt: Nha
trang hotel năm nào.
Ngày xưa muốn vào sinh
hoạt ở nơi này chắc không phải dễ. Đây là hotel đẹp và nổi tiếng, là bộ mặt nổi
của thành phố Nha trang lúc bấy giờ, phải là người “có tiền” mới bước chân vô.
Nhưng hôm nay có ít nhiều đổi khác, nên các bạn trong Ban tổ chức, nhất là người
“nổi tiếng trong thành phố” như “lớp trưởng Sương” của chúng tôi năm nào, đã chọn
nơi này làm “điểm hội tụ” cho các bạn từ các nơi về trú ngụ và tổ chức đêm vui
và mục đích cũng là nhắc nhở về những kỷ niệm của những ngày tháng
…giáo sinh trong trường SPQN.
Mới ngày nào tôi xách
va li ra khỏi cổng phi trường Qui Nhơn là hiên ngang đưa tay vẫy chiếc xe lam
ngừng lại, leo vội lên làm như ta đây rành đường đi nước bước lắm lắm, mà không
biết rằng mình đã đón lầm hướng xe, bác tài xế biết chuyện bèn ngừng lại, cho
tôi xuống ven đường và đón dùm tôi chiếc xe khác chạy ngược vào Sư phạm, thay
vì vô phố. Ngày đầu tiên đi học đã có kỷ niệm rồi. Không hiểu tại sao hồi đó Ba
má tôi lại cho tôi thượng lên máy bay từ Nha trang đi Qui Nhơn mà không cho đi
xe cùng chúng bạn? dù có đứa trong bọn đã biết rõ đường đi.
Phòng
nội trú số 3 của chúng tôi lúc đó chứa đến những 36 người nữ giáo sinh, đông
vui không kể xiết, nhất niên và nhị niên đều ở chung với nhau, miễn là những
người quen biết. Nhưng hên quá, sự “ồn ào náo nhiệt đông vui” kia đã sớm kết
thúc, vì nội trú mới đã cất xong chỉ chừng hơn vài tháng sau đó, và dĩ nhiên,
khóa 7, 8 chúng tôi, là những tên học trò “ưu tiên một”, vì đã được hân hạnh
“Khánh thành” khu nội trú, nam nữ cách nhau bởi hai dãy lớp học dài và ở được
những hai năm liền trong thời gian học tập với một phòng chỉ có 4 tên, có tủ
riêng, giường nệm riêng và cả bàn ghế để ngồi học bài, còn có một phòng tiếp
tân chung với TV, ghế ngồi sang trọng ngay cửa ra vào nội trú.
Hồi đó chúng tôi học lớp
hai, lớp lấy Anh văn làm sinh ngữ chính, có bà cô giáo người Mỹ với sóng mũi thật
cao, mà nhiều lúc Cô đã tức giận bỏ ra đứng ngoài cửa lớp không thèm dạy tiếp,
vì cái đám nữ giáo sinh quỉ quái, lại làm biếng có hạng, không chịu quét gián
nhện trên cửa kính dù đã phân công trực hàng ngày, để cô giáo mỗi lần đến đứng
gần cửa sổ ngước mắt nhìn trời mây bên ngoài là cứ y như rằng lỗ mũi cô dính đầy
mạng nhện, để lũ quỉ phá ra cười và cô thì ngơ ngơ, ngác ngác, hỏi hoài không
chịu nói.
Phòng
ở nội trú của lớp chúng tôi được thống lĩnh một dãy dài ở trên lầu ba gió lộng,
lại có cửa sau để…dòm ngó được dưới hành lang dẫn vào nột trú, nên những lúc rảnh
rỗi, những đôi mắt nai ngơ ngác, những đôi mắt thiên thần của những ai kia, bỗng
trở thành sáng trưng nhìn người không chớp mắt, và nhiều nhiều những nhân vật
đi bên dưới đã được quan sát và ghi nhớ kỹ vô cùng, lẫn với đám thực khách bên
“căng-tin” kia, nơi chốn gặp gỡ của những người hùng lính trận, những
nam giáo sinh hay những người vào thăm “thân nhân” bên nội trú nữ đều được
chúng tôi “điểm danh, ghi nhớ.
Lớp hai chúng tôi “nổi
tiếng như cồn” về nhiều mặt. Với một sĩ số hơn năm muơi tên đủ miền đất nước từ
Quảng Trị đến Phan Thiết, nên “nhân tài” vô số kể. Ngoài việc học chúng tôi còn
tham gia những sinh hoạt khác của trường một cách tích cực, và cũng bởi tích cực
quá độ mà có lần chúng tôi bị…ném đá tơi bời, may mà cả bọn đã học được tí
võ…NÉ Bình Định nên nhanh nhẹn né tránh thật hay. Chẳng qua vì lớp tôi có chị
Lý Bùi Yến, tên thì mảnh mai như cánh én đang bay liệng giữa mùa Xuân, nhưng
người thì thuộc “dạng thể thao” có hạng, nên được bầu làm trưởng ban thể thao của
nhà trường luôn, thế là mỗi lần đội bóng tròn nhà trường đi đấu giao hữu ở đâu,
là chị vận động một đám nam nữ giáo sinh theo…cổ võ, (Có lẽ nhờ vậy mà trường
Sư phạm thắng đều đều?)
Có
một lần chúng tôi được vận chuyển bằng hai chiếc xe GMC nhà binh vượt đường đèo
lên tận xứ AN KHÊ, không biết có phải vì đội tuyển thủ của trường giỏi, hay đội
địa phương quá dở, để chúng tôi hét mừng khan cổ vì những trái bóng lọt vào
khung thành của đối phương, mà thủ môn đội nhà địa phương đứng trơ mắt ếch ra
ngó, đến nỗi dân làng đi xem tức mình vì bị quê, thế là có màn… “đá bay từ
muôn phía, đá văng lại nơi đây” làm chúng tôi hãi quá, bèn ngồi thụp xuống
lòng xe và…im lặng là vàng. May quá, nhờ Trời thương, chẳng có ai bị thương
tích nặng, chỉ có một nam giáo sinh bị…gãy hai cái răng cửa (về sau mới biết
anh cộng chỉ số với thủ khoa khóa 8. lớp tôi). đến khi xe xổ dốc xuống đèo trở
lại trường, đám tụi tôi mới dám lớn tiếng hoan hô: “Trường Sư phạm QN toàn thắng!”.
Bộ môn văn nghệ mới là
đề tài để các lớp tranh nhau biểu diễn, những tấm “bích chương quảng cáo” được
dán đầy khắp hành lang nội trú, phòng học: “một đêm văn nghệ với đầy đủ
thi-ca-vũ-nhạc-kịch được ra mắt tại phòng sinh hoạt do lớp nhị hai phụ trách”.
Oai quá cỡ thợ mộc khi cả trường xôn xao, có người náo nức nôn nao để xem cái bọn
này nó trình diễn ra sao mà …quảng cáo xôm tụ?, nhưng cũng có mấy tên trề môi,
xí dài họng khi có bóng dáng chúng tôi đi qua.
Dĩ nhiên đêm văn nghệ
chúng tôi ra quân lần đầu thành công …vượt bực, vì trưởng ban văn nghệ Sửu của
chúng tôi đã…khai thác triệt để nhân tài của lớp: giới thiệu chương trình đã có
Trần Tuyết với giọng nói “Bắc Kỳ” nhỏ nhẹ, ngâm thơ hay đã có Trịnh thị Vui, những
giọng oanh vàng đơn ca vừa ..hùng vừa dịu đã có chị Tuyết mông-rô (chị đã qui
tiên rồi), Lê thị Liên v.v.v, Vũ thì khỏi cần nói, được trưng dụng tối đa, với
một bầy con gái được chọn làm thiên thần, nữ hiệp như Mỹ Linh, Trà Mi, Kim
Phúc, Nguyễn t. Thuận, Hoàng Yến, Phạm Thuận (còn nhiều lắm)…. Mấy tên cao cao
một chút như Sương, Phan Tuyết, Lành, Vinh, Thu Mai, Sơn Thái…, thì bị “đổi giống”
thành nam nhân mà không phải qua một cuộc giải phẩu nào, để vào vai những điệu
vũ như “Hải quân hành khúc, Hận đồ bàn”v..v.. được khen quá cỡ. Những màn hợp
ca, tứ ca, tam ca, ngay cả kịch nữa, trưởng ban văn nghệ Sửu, lớp trưởng Sương
và tôi, cùng “tự biên tự diễn” kịch vui: “Ta về ta tắm ao ta!”. Nội dung là người
đàn bà nhà quê …bỏ chồng, học đòi lên thành phố ăn diện lòe loẹt, kệch cỡm
trông mắc cười. Hai vợ chồng cứ choảng nhau, cuối cùng nhờ chị người làm “cải tạo
tư tưởng” cho bà vợ qua bài hát “Quê nghèo”, chị vợ “ngộ” ra quay về với chồng,
thế là “ta về ta tắm ao ta..” hahahaha. Cái chị nhà quê lên tỉnh cũng do tui đảm
nhận, được bạn Yến ở ngoại trú …mượn dùm cho một cái áo dài “tếch ních co lo”
mà mới nhìn qua đã thấy…lạnh lùng rồi, cùng với anh chồng Sương và người làm Sửu
đã khiến bà con cười chảy nước mắt, nên sáng hôm sau thầy giáo Cộng đồng vào lớp
cứ hỏi: “trò nào đóng vai nữ đó? Thầy cười mệt quá!”. thầy đâu biết cái con nghịch
phá đang ngồi ngay trước mặt Thầy. Về hoạt cảnh, đóng vai Mẹ già thì không ai
qua mặt được Nguyễn Yến, còn lại những bạn không lên sân khấu được thì ở dưới…kéo
màn, tiếp nước, dù rằng lớp “cộng đồng” của chúng tôi là nhị 7, với anh trưởng
lớp…đẹp giai nhất trường, đã tình nguyện giúp nhiều tay, nhưng lớp trưởng Sương
của chúng tôi chỉ cảm ơn và tuyên bố để lớp làm lấy mình ên.
Cũng
bởi lớp tôi …nổi quá mà mấy lớp bạn cũng trổ mòi thi đua về sau hay hết biết.
Nhất là lớp 3, có cô bạn Bùi thị Thu Hằng, với giọng ca thiên phú thật truyền cảm,
một giọng ca chính của trường, không thể thiếu trong bất cứ buổi văn nghệ nào.
Hằng hay đến phòng tôi vào lúc nửa đêm, khi mà cả nội trú chìm vào tĩnh lặng,
có người đi dần vào giấc ngủ, cửa phòng đóng kín, nhất là những đêm tối trời,
điện đã cúp từ lúc mười giờ, tụi tôi ngồi trước hành lang tối thui, nơi đó những
bài hát “Hoài Cảm, Suối mơ hay Thiên Thai” được giọng ca vàng của Hằng cất lên,
thật khó mà diễn tả tâm trạng của người nghe lúc đó, và cũng vì chúng tôi biết
có nhiều tên trong nội trú gần đó lắng nghe Hằng hát, nhưng đêm tối thùi lùi
chúng chẳng thấy chi chi, thế là Hằng và tôi bèn lấy tấm ra trắng, lần mò xuống
sân nội trú, phủ lên mấy cục đá có sẵn giữa sân, một lát sau hết hát, mò xuống
lấy lên cất kỹ. Và sáng mai, có tin rỉ tai nhau: trong sân nội trú có Ma! Ha ha
ha vui quá là vui!
Từ
đó phong trào văn nghệ trong trường nổi lên rầm rộ hơn trước, và lớp năm, lớp của
các bạn Phạm thị Yến, Nguyễn thị Trường, những cô bạn cũng ra đi từ Nha trang,
đã nổi đình nổi đám với những hoạt cảnh như Hò kéo lưới…, từ đó chúng tôi quen
biết nhau, dù rằng không cùng một lớp…
Nửa thế kỷ trôi qua một
cái vèo, ngoảnh mặt lại tên nào cũng đà… “mất dạy”. Kẻ vượt thoát ra ngoài thì
ít có ai dư thì giờ để đi học lại mà trở về bục giảng, ngoài công việc làm ăn để
nuôi con, người còn ở lại đến bây giờ cũng đã quá tuổi nên phải về hưu, thôi
thì cũng đã xong một kiếp làm Thầy Cô giáo, và hôm nay các bạn tổ chức họp mặt…
Tôi đến nơi này vào buổi
sáng ngày họp mặt, đã thấy một số các bạn từ xa về ngồi sẵn ở sảnh đường. Ngoài
các bạn trong Ban tổ chức như Sương, Yến, Cường, P Mai, Tuyết, Kim Thoa, Bảy,
thì tôi chưa… nhận ra bạn nào cả. Ai vậy trời? “Mày” không nhớ “Tao” sao? Nhớ
chứ sao không nhớ? Uả mà bạn…tên gì? (hìhìhìhi), ngày đó tôi và bạn có sinh hoạt
chung không? Chưa gặp bao giờ thì làm sao mà nhớ hở trời? Nhất là mấy chàng nam
giáo sinh từ lớp sáu đến lớp mười, nếu không gặp gỡ làm sao mà…biết ?, ngoại trừ
lớp bảy là lớp cộng đồng, nên phải sinh hoạt chung, đi cộng đồng về miền quê,
nên có nhiều thân tình bạn hữu, thí dụ anh chàng Lê Xuân Quảng, ngày xưa đóng kịch
vào vai “bà mẹ Gio linh”, chính cá nhân tôi phải “hoá trang” cho chàng thành
…bà già khú đế để lên sân khấu trình diễn, và các bạn trong ban hợp xướng
của trường mà tôi là thành viên trong đó. Mỗi khóa có đến mười lớp, chia cho
nam nữ năm lớp đều nhau.
Người đầu tiên nhận ra
nhau là Phương Võ lớp nhị ba vừa vào đến, tôi cũng hét toáng lên sao bao nhiêu
năm Phương chẳng thay đổi gì nhiều, chỉ có “đẹp lão” thêm thôi. Huế, người đẹp
“Ban mê” thì tôi đã gặp lâu rồi, kỳ này vẫn đẹp. Nhìn ra…Trà Mi lớp tôi đây
sao? Cô bạn đẹp dịu dàng, với mái tóc thề buông xỏa ngang lưng, làm say đắm bao
chàng nam Giáo sinh thuở đó, bây giờ bạn ngồi đây với quá nhiều thay đổi, cứ
như là “bà mẹ của người bạn nước láng giềng” thay vì “mẹ Việt Nam!”. Nhưng Trà
Mi vẫn yêu đời, vẫn vui vẻ về dự họp mặt với bạn bè, tôi trân quí tình cảm của
bạn vô cùng.
Rồi các bạn nhị hai lớp
tôi từ từ xuất hiện: đây là nguời đẹp xứ Huế mộng mơ và có giọng ngâm thơ rất
tuyệt: Trịnh thị Vui. Rồi Nguyễn thị Thu, rồi Lý, Hương Sen - cô bạn lúc nào
cũng nhỏ nhẹ dễ thương. Rồi “mẹ Việt Nam Đàm Ái Mỹ”, người bạn cần cù, chăm chỉ
từ tốn trong từng câu nói, đã mang theo những tờ lưu bút ngày xưa chúng tôi viết
cho bạn, và “trao về khổ chủ” để làm kỷ niệm lúc cuối đời, thương quá là
thương! Cô “bé Tiến” xinh xắn vẫn đi bên cạnh cuộc đời của Thầy giáo Ngô Hữu
Phước cũng vừa từ Tuy Hòa vào, có người thắc mắc sao Tiến vẫn…bé xinh hoài, vậy
mà ngày xưa làm sao đứng trên bục giảng nhỉ? Có Xuân 50, nhưng bạn cứ im lặng
cười cười, Ngô Nhung với chàng Vũ nữa nè, “đôi uyên ương cộng chỉ số” hài hòa
nhất lớp tôi, hát cũng hay nữa. Rồi “thủ khoa” của khóa 8: Vương Thủy Tiên và người
cộng chỉ số là “Dân đẹp trai” của lớp sáu, người bị đám dân An Khê quá khích
“mượn tạm” hai cái răng cửa, khi cả đoàn chúng tôi đi làm “cổ động viên” cho đội
bóng tròn của nhà trường tham dự “trận đấu giao hữu” và phe ta toàn thắng, phe
An Khê thua nên nổi máu “anh khùng” vác đá ném chơi cho bỏ ghét!
Chúng tôi xa nhau từ
ngày nhận nhiệm sở ra trường, và thú thật các bạn…về đâu? dạy trường nào? cá
nhân tôi mù tịt, ngoại trừ mười người về ty Tiểu học Khánh Hòa. Ngày đó, được xếp
vào hạng “top ten” như chúng tôi, dễ dàng nhận nhiệm sở theo ý muốn, Và khi cầm
được tờ “sự vụ lệnh” trên tay, mừng quá rời khỏi trường và bay luôn về …nhà mẹ
chẳng để ý đến ai, nên đâu biết nhiệm sở của bạn mình đã nhận. Kể ra ngày đó
sao quá vô tâm!
Buổi họp mặt vui không
tưởng. Chắc không ai nghĩ rằng đây là buổi sinh hoạt của nhóm người “bảy bó” có
thiếu thừa chút xíu. Ngày xưa bọn tôi cứ tha hồ rống họng hát to mọi lúc mọi
nơi để …giới thiệu về mình cho bà con biết: “một đàn Sư phạm đi qua, chẳng
thiếu chi nhiều chỉ thiếu tiền tiêu, ố tang tình tang, ố tang tình tình..”
Thì bữa nay, dù đã nửa thế kỷ sau, vẫn quậy tới bến. Vì từ khi ra khỏi ngôi trường
sư phạm thân thương với hai năm đèn sách, đám giáo sinh “nội trú nữ” của chúng
tôi bỏ lại đàng sau quá nhiều kỷ niệm, khi mà một “lũ con gái” cuối tuần chẳng
có đi ra khỏi trường, cứ quẩn quanh phòng trực nội trú, thấy chàng nào…léng
phéng dám bước qua khỏi cổng nội trú, là la toáng lên “bắt trụng nước sôi”, làm
mấy chàng tá hỏa tam tinh phóng trở ra không kịp.
Trưởng ban tổ chức vẫn
là “lớp trưởng Sương” của chúng tôi và các bạn Yến, Tuyết…
Tiếc rằng quý Thầy Cô
giáo năm xưa giờ đã quá lão, nên không có ai về tham dự với học trò già! Chỉ biết
gửi lời cảm ơn dù muộn.
Người từ các nước xa về
thành phố được BTC trao tặng “vòng hoa chiến thắng” trời ạ. Mèn ơi vui thì
thôi! Có các chị khóa trên như Chị Hạnh, chị Hương Diễm, chị Xuân và các bạn Hồng
Vân, Hoan, Cúc 47, Diệu, Thuận Lê, anh Hòa Em.., (không biết có sót ai?) mỗi
người một cái để chớp hình làm kỷ niệm. Cứ như người Hawaii mà chưa múa vũ điệu
Haloha được thôi..
Lớp nhị hai của tôi về
họp mặt coi mòi đông nhất, nhưng lớp cộng đồng thì ít quá đi thôi, chỉ có hai bạn
là Lê Xuân Quảng và Phạm Lùn, trong khi các lớp khác thì nam nữ đề huề, chụp
hình xôm tụ, mà tôi không thể nhớ hết tên. Có chị Bùi Hoa lớp một(?) cũng người
Nha trang, ngày trước chỉ biết chứ chưa quen. Sau này nghe các bạn nói chị lập
gia đình với anh Cựu Tr/uý H., nhưng không nói rõ lúc nào và sinh sống ở đâu?
Anh từng là huấn luyện viên ở trung tâm huấn luyện Lam sơn, và là bạn thân của
ông anh trai nhà tôi nên thân tình với gia đình tôi. Nhưng tiếc quá, từ ngày
thành phố Nha Trang “đổi chủ” vào tháng ba năm đó (1975), thì vì cuộc sống khó
khăn, hầu như không ai còn “quan tâm” đến ai ngoài những người thân trong gia
đình, nhất là những ngày “trốn chui trốn nhủi” để tìm đường vượt biên, nên gia
đình chúng tôi chưa bao giờ có cơ hội gặp lại anh, nên rất buồn khi nghe chị
Hoa báo tin anh đã qui tiên. Một nén nhang thắp muộn, cầu nguyện cho linh hồn
anh được siêu thoát về chốn vĩnh hằng. Đa số các bạn lớp khác thì chỉ biết tên
qua mạng Face book khoảng thời gian gần đây, giờ gặp mặt nên cảm thấy thân
tình, đùa vui tự nhiên như là bạn tâm giao lâu ngày gặp lại. Xin cảm ơn FB đã
làm chiếc cầu nối cho người…
Mục Văn nghệ “phụ diễn”
giúp vui sau bữa ăn tối cũng có thi-ca-nhạc. Các bạn trong BTC chuẩn bị chu đáo
lắm, nhất là “Yến ốc tiêu-siêu tài nghệ”, chuyện chi làm cũng thông, các bài
hát xưa cũ cũng đem ra trình diễn, đồng ca, đơn ca tá lả, hay và vui hết biết.
Cái tôi cũng bị “bắt cóc bỏ dĩa” làm anh nông dân đi…tìm vợ vừa mới bỏ chồng ra
đi. Mất có “một con vợ” mà cuối cùng tìm được những tám người vợ mới! Ai cũng
cười vui thoải mái là tốt rồi! Vui là chính mà! Những giọng ca “chính” hôm nay thật tuyệt
vời, tôi cứ ngỡ các bạn mình đang hát trên sân khấu kia cỡ chừng năm mươi mí là
cùng, nhưng không đâu, “cụ bà” Bích Tuyền, “cụ
ông” Ngô hữu Phước ơi, giọng hát để đời hay quá. còn các …cụ khác cũng hát hay,
mà cụ già này quên mất tên rồi nên không kể được, sorry nhé. Có Vui ngâm thơ,
có…???
Có mục chơi xổ số, có lắm
người may mắn trúng số làm quà kỷ niệm. Anh chàng Quảng vẫn quậy như xưa, làm
bà con cười quá. Đêm vui qua mau, các bạn phải về nghỉ lấy sức cho ngày mai đi
du ngoạn.
Hai chiếc xe bus dài
ngoằn chở hơn trăm mạng người vượt quãng đường dài hằng mấy mươi cây số tiến về
bãi biển có tên Bãi Dài, làm tôi liên tưởng đến chuyến du hành Cù lao Xanh năm
nào. Ngày đó chúng tôi còn trẻ, mà khi ra khơi, với tài lái tàu … lượn qua lượn
lại, lướt sóng trùng khơi của mấy bác Hải quân muốn làm le với đám giáo
sinh(?), cũng làm cho nhiều bạn cho cá ăn chè, ngất ngư con tàu đi. Nhưng khi
bước được lên bờ, thì tha hồ đi tìm phong cảnh để…chụp hình, dù không nhiều như
bây giờ, nhưng cũng để lại nhiều hình ảnh quí..
Nhưng bữa nay thì, mỗi
người là một “nhiếp ảnh gia” chuyên nghiệp. Bãi biển “Bãi dài” nước
trong xanh thẳm, bờ nước không sâu có thể tắm được. Nhưng trời có
mây thấp, hình như muốn mưa nên có vài đợt sóng nhỏ nhấp nhô, khiến cho một số
bạn không dám xuống, sợ ướt quần!.hahhha…Thế là tuôn ra chớp hình, chớp đủ kiểu,
chớp không ngừng, cứ nhảy từ nhóm này qua nhóm khác, Anh bạn Đỗ Hữu, trở thành
người số một trong nhóm nhiếp ảnh gia, chỗ nào cũng gọi nên Đỗ Hữu thật đắt
hàng. Nhưng có lúc bạn ấy cũng tham gia trò chơi “đi bắt cá cho má nấu canh
chua”, và “bị” mấy bạn giáo già đòi “bắt cua” của bạn, nên bạn…sợ quá chạy lặn
mất tiêu. Còn có nhiếp ảnh gia Nguyễn Chí Hải, Hoan Nguyễn, Trịnh Vui…nhiều và
nhiều bạn lắm, tha hồ giỡn sóng và chụp hình, cứ như hồi còn trẻ đi Cù lao
Xanh.
“Hình như là người
xưa?”! trí nhớ của anh bạn lớp chín (10?) hay thật! “Có phải là H Vân không?”
Anh đã nhận ra được cô bạn HV thật sao? giỏi thế. Ngày xưa bạn ấy nhỏ nhắn dễ
thương lắm, giờ thì …phát tướng, đổi màu da nhưng bạn vẫn nhận ra. Úi chu choa,
gì chứ mục “phá” là cái đám “cô giáo già mất dạy” này không tha đâu. Chỉ cần
nghe một bạn loan tin anh bạn lớp cộng đồng vừa tìm ra…cố nhân ở lớp năm, thế
là cả đám cùng a lại cất giọng hét: “ Năm mươi năm rồi không gặp , giờ
nhìn em thế này, anh lẹ làng…dông mất, vì sợ em…níu tay..” hahahaha, thế là
các bạn khác cũng ùa vào hát…tặng cho hai bạn ta vừa nhận diện ra nhau, khiến
anh giáo già phải lẳng lặng rút êm vì mấy cô giáo già phá quá (khi đọc giả đọc
xong chuyện này thì biết cô bạn HV không còn trên dương thế. Một nén nhang cầu
nguyện cho linh hồn bạn sớm siêu thoát về cõi vĩnh hằng.)
Cảm ơn các bạn tôi
trong Ban Tổ chức ngày Xuân họp mặt Khóa tám SPQN Nha trang nhiều lắm lắm. Hy vọng
những ngày vui sẽ còn mãi trong trí nhớ của mỗi một người tham dự. Cảm
ơn tất cả các bạn ở mọi miền về chung vui, cho tôi có dịp “tay bắt mặt mừng”,
dù ngày ấy chẳng hề biết nhau, nhưng đâu có sao, bây giờ …quen cũng được vậy,
hìhìhì…
Một số cô giáo già tiếp
tục Nam tiến vào Phan Rang tìm bạn cũ. Chỉ có Minh 49, Ngọc Minh và Nữ Vi mà
các bạn cũng tổ chức cho nhóm chúng tôi đi ngoạn cảnh nhiều chỗ lắm, được đi
vào vườn nho, đi lên Chùa, đi xuống biển, đi thăm căn nhà xưa của vị Tổng thống
nước VNCH cũ, nhìn căn nhà mà chạnh lòng, bùi ngùi thương cảm. Nếu “so sánh” với
dinh thự nguy nga của các “quan ngài” thời bấy giờ thì một trời một vực. Ngày ấy
các Ông to Bà lớn có cuộc sống “khiêm tốn” quá, chẳng như bây giờ….
Buổi tối cô con gái đẹp
của Minh 49 còn mời mấy dì đi hát karaoke. Cháu cứ ngỡ mấy bà già “mắc cỡ” nên
ngại hét, nhưng cháu…lầm to! Mục này thêm hấp dẫn vì có giọng hát của Thu Hằng,
người bạn hát hay nhất của khóa tám năm xưa, bây giờ bạn vẫn còn hát ở các
phòng trà chuyên trị nhạc tiền chiến. (Cảm ơn Thu Hằng đã cho T chụp lạì tấm
hình bọn mình cùng trình diễn trên sân khấu của trường với bài hát “Se chỉ luồn
kim”, bạn là giọng ca chính, bốn tên Sương, Phan Tuyết, Trần Tuyết và Vinh ngồi
minh hoạ). Rồi Ngô Hữu Phước và Tiến cũng xuất hiện, Đỗ Hữu và bà xã Tâm cũng
hát tới bến luôn, rồi Ngọc Minh, vv…vv..toàn là những “giọng ca vàng” nghe
khoái lỗ tai gì đâu. Kể ra SPQN có nhiều nhân tài quá.
Cảm ơn các bạn khóa tám
ở Phan Rang nhiều, nhờ các bạn mà chúng tôi biết thêm được quê hương tươi đẹp của
tỉnh nhà, có bánh căn ngon nổi tiếng, bánh xèo no bụng….
Người sống ở Nha trang
một lần trở về trên chính nơi mình lớn lên, học hành và làm việc bao nhiêu năm.
Thời gian xưa không dài bằng những ngày sống trên đất Mỹ, nhưng vẫn ghi lại nơi
đó nhiều kỷ niệm khó quên….
Nhưng nếu nói đến một
chuyến đi-về thì có quá nhiều chuyện để kể vì nghe mệt lỗ tai. Bây giờ ở Việt
nam mọi sinh hoạt đã khác xưa. Người cháu ở Tây Ninh, có đứa con trai 25 tuổi
đang đi làm với công việc rất ổn định, tự nhiên nhận một tấm giấy kêu đi “nghĩa
vụ quân sự”. Bao nhiêu năm không kêu, giờ thấy có thể “làm ăn được” là chính
quyền chẳng bỏ qua. Thế là phải “chạy chọt” để khỏi đi vào trại lính, sơ sơ “bảy
chục triệu” tiền tươi. Tiền gì mà tính toàn triệu triệu. Có tiền thì được miễn
đi lính đã đành, nhưng chuyện muốn đi vào Lính cũng phải “trả tiền” mới là chuyện
lạ. Giá phải đưa cho “quan chức nhà nước ta” là năm trăm triệu! Một số tiền
không nhỏ, thế nhưng những người muốn con vào “Lính có lon”, vẫn phải chạy vay
mượn để đút lót cho…quan ăn. Họ “lý luận” rằng: nuôi một đứa con vào đại học, mỗi
năm tốn…trăm triệu khơi khơi, bốn năm là bốn trăm triệu rồi, mà khi ra trường
thì…thất nghiệp. Thôi thì tốn một lần, khi con ra trường có…việc vĩnh viễn
(không sợ đánh giặc?) Thật tội nghiệp cho những người trẻ và bậc làm cha mẹ thời
nay.
Về thăm nhà người chị
quê ở Mỹ Tho, nhưng không ai dám mời khách ăn trái cây, vì không phải chủ nhà
vườn nên không biết đâu là trái cây chín tự nhiên và đâu là ngâm hóa chất ? Tất
cả mọi chỗ mọi nơi đều “quan tâm” đến thức ăn, đồ uống không an toàn, nhưng bên
ngoài chợ búa vẫn bày bán nhan nhản, giá đắt như vàng. Cuối cùng thì họ vẫn phải…ăn,
vì “không ăn làm sao sống? chừng nào chết hẵng hay!” hết ý. Nhưng nếu nơi nào
có “siêu thị, đa số của Đại Hàn hay Nhật bản, thì còn chút “tin tưởng” để vào
đó mua sắm, dù sao “người nước ngoài” vẫn còn chút lương tri, vẫn còn nghĩ đến
“an toàn thực phẩm” cho người tiêu dùng, không dám bán thứ dỏm! Nghe mà cay đắng
quá.
Một chuyến đi-về, để lại
quá nhiều thắc mắc: người công nhân đi làm với tiền lương quá ít, mà giá sinh
hoạt chung quanh thì vô cùng đắt đỏ, nhưng không hiểu sao chỗ nào cũng quán xá
đầy dẫy, mà quán nào cũng…kín người ngồi, giờ nào cũng có khách, xe hai bánh
hàng hàng lớp lớp đậu choáng hết lề đường dành cho người đi bộ? Thì giờ và tiền
bạc???
Lại đi tìm trái cây an
toàn không bơm hóa chất. Tới tận nơi trồng mảng cầu xứ Tây Ninh, khu vực có quá
nhiều nhà nghèo, nghe địa danh “Ma Thiên Lãnh” ở gần đó, y như trong chuyện kiếm
hiệp của Tàu, người cháu cũng tò mò nên chở mọi người đến xem thử. Đúng là Ma
Thiên Lãnh thật, nó hoang vu, chỉ có ngọn núi đá thấp lè tè, có hồ nước nhỏ, và
ban tối có…ma là cái chắc?, Nhưng giữa chốn đèo heo hút gió, trơ cằn cây cỏ,
thưa thớt bóng người chỉ có cái quán bán cà phê, vẫn có người thiếu nữ trẻ mặc
chiếc áo cưới màu trắng dài lê thê lếch thếch, đứng …uốn éo chụp hình cưới với
chú rể…Đại hàn. Mong sao cho tình duyên của cô được trọn vẹn, hạnh phúc. Đừng
giống như nấm mộ cô gái trẻ ở tuổi 25, nằm cạnh mộ của mẹ chồng tôi ở nghiã
trang TN, cô gái làm “dâu xứ lạ” và bị nhà chồng hành hạ đến chết, cha mẹ chở
xác về chôn. Buồn!
Kinh tế đã vậy, chuyện
‘tình cảm” con người nghe cũng bi thảm quá chừng. Cô gái có tiệm tóc bên nhà, cỡ
bằng con gái tôi thôi, cô cứ rà rà tâm sự: “Cô ơi, đời sống bây giờ khó khăn và
mệt mỏi lắm, tụi cháu phải làm suốt ngày mới có tiền trang trải cuộc sống.
Nhưng lấy chồng thì khổ hơn, đàn ông trẻ bây giờ đa số không lo cho gia đình
đâu, họ đi…ăn nhậu nhiều hơn, rồi coi cô nào có…tiền thì nhảy vào, nên ly dị
nhiều lắm…!” Mong rằng đây chỉ là “tâm sự của riêng cô”, không phải là điểm buồn
chung của xã hội, khi mà các ông bà quan to, chức lớn cứ bán đất, bán rừng, bán
biển, lấy tiền ăn nhậu, ở khách sạn, “resort” ngoài đảo hơn ngàn đô
la một đêm, mà nơi nào cũng không còn chỗ trống! Trong khi tôi vào bệnh viện,
có nhiều bệnh nhân nằm la liệt dưới chân giường bệnh nhân khác, bữa cơm bình
thường phải chờ người…bố thí, trẻ em vàng vọt, bệnh sắp chết mà chẳng có tiền
đưa cho bác sĩ để được trị liệu. Có bao nhiêu tiền cũng khó mà cứu giúp cho đủ.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét