Thứ hai, ngày 16 tháng mười một năm 2009

PHÚ YÊN : NƯỚC LŨ XOÁY LÒNG



Làng quê trắng xóa một màu
Nào màu nước lụt, nào màu khăn tang

(thơ Lê Ngọc Thọ?)

PHÚ YÊN, tự cái tên đã mang lại những gì tốt đẹp, nếu không muốn nói là xứ sở “giàu có yên bình”. Người dân Phú yên đã từ lâu vẫn hãnh diện mình là dân đất Phú, dù không phải tất cả đều là người nhiều tiền lắm của, nhưng chưa đến nỗi đói ăn lâu dài, dù phải sống bao nhiêu năm dưới chế độ XHCN.



Nhưng cơn bão số 11 và trận lụt khủng khiếp vừa đem tai ương phủ chụp lên đầu người dân đất Phú. Không những nhà cửa, đồ dùng, thóc lúa mùa màng, gà vịt heo bò đều bị cuốn trôi theo dòng nước, có nguyên một làng TRIM ĐỨC ở xã Xuân Quang 2 đã trôi toàn bộ 48 căn nhà trong tổng số 48 căn của 57 gia đình. Của cải mất hết đã đành, mà sinh mạng nhiều người cũng đã bị làm mồi cho cơn lũ dữ (gần một trăm người).



Làng Trim Đức có quá nhiều tiếng khóc than, khi 18 mạng người, mà trong đó có 6 em bé đã được nằm lịm kín trong quan tài buồn sau cơn nước rút. Có gia đình ở xã An Thạch, đã chết cả hai vợ chồng (ông bà Vọng) vì nước lên nhanh quá không đường chạy thoát, và gia đình một Giáo viên đã bị nhà sập, đè chết cả năm mạng người. Có gia đình tại cầu Thị thạc (Sông Cầu), thật thương tâm khi người cha đứng rét run trong biển nước, nhìn hai đứa con bị dòng nước chảy xiết cuốn đi, mà không làm cách nào để níu giữ con mình lại được. Bây giờ sau cơn lụt, người cha đã trở thành một kẻ thất thần, cứ ngồi nhìn trời (vì không còn nhà cửa) mà không biết anh có nhìn thấy gì không? Có đau xót nào hơn?
Đã nghèo còn đụng cái eo
Một cơn bão lụt bay vèo tương lai
Nỗi đau này biết hỏi ai
Người vô trách nhiệm? Tại Trời không thương?




Bây giờ, quá nhiều người dân ở các thôn xã trong tỉnh nhà, cứ sống lây lất tạm bợ trong những căn lều bằng tấm bạt ny-lông, và bằng thức ăn của người thiện tâm đem đến cứu trợ. Nhưng các thôn 1, 2 của xã An Ninh (tuy An) vẫn cón chịu sự đói khát, màn trời chiếu đất, vì đường sá còn quá trở ngại, xác của nhiều loại gia súc bị chết trôi, nhà cửa đồ dùng bị nước cuốn, kẹt lại, giờ vương vãi khắp nơi, mùi xú uế bay khắp trong không gian nên chưa có ai đến giúp, ngay cả vài gói mì. Biết đến khi nào người dân đất Phú mới trở về với cuộc sống bình thường khi mà cái nồi cũng không còn để nấu miếng cơm khô?
Trong tình cảnh quá thương tâm, dù ở xa đến nửa vòng trái đất, có ai mà không ngậm ngùi ngăn giọt lệ rơi, khi nghe và nhìn thấy cảnh lũ lụt được chiếu trên màn ảnh nhỏ.



Một đồng cũng là đóng góp, đó là tình đồng bào cứu người qua cơn hoạn nạn. Dù anh chị bà con không là dân đất Phú, cũng đâu nỡ ngó lơ cho đành.



Cùng với nhiều hội đồng hương Phú yên ở nhiều nơi trên đất Mỹ,
Hội đồng hương Phú yên ở Houston, đã nhanh chóng có buổi họp, và một số tiền nhỏ đã gửi ngay về tỉnh nhà, em gái của anh Trần tấn Châu là chị Trần thị Hoa, cùng hai chị bạn Dương+Huệ đã mua mền, mùng và số tiền nhỏ bỏ bao cho mỗi gia đình, đến tận Đồng Xuân-La Hai để trao cho bà con, mấy chị còn nấu đến mấy nồi cháo lớn chở đến tận nơi, vì bà con đói quá mà không có gì để ăn..
(Đại diện nhà nước Cộng sản nói (nghe phỏng vấn trên đài RFI ngày 15/11/2009): nạn lụt này xảy ra là do...dân, nên dân phải hứng chịu. Chứ không do quí ông bà xả đập chứa nước để làm thủy điện, và chặt cây đốn gỗ lớn trên rừng)

Thứ bảy, ngày 07 tháng mười một năm 2009

BỘ ĐỒ LÍNH


(Quân chủng Không quân diễn hành tại Houston)

Tự nhiên bà Tá trở thành một khán giả bất đắc dĩ. Ngồi trong góc nhà nhìn ông chồng già “súng sính” trong bộ đồ Lính cũ đi tới đi lui mà bà cảm thấy sao sao. Chính bộ quần áo đó mới ngày nào làm tăng thêm vẻ hào hùng, oai dũng, hiên ngang của một người “trai thời loạn”, đã làm xao xuyến tâm hồn người thiếu nữ trẻ, mỗi lần người Lính xuất hiện ở cổng rào.

Thời đó có ông nhạc sĩ(hay bà?) đã viết lên bài hát :
Sáng chủ nhật rồi Anh đi Lính không tới nhà thăm Em, chắc là Em mong lắm phải không khi vắng bóng người yêu. Rồi đây trong những ngày Anh vắng bóng Em có còn đi nữa không. Đường đông nhưng mà Anh đâu có để rồi Em khoe áo hồng..?”

Đối với bà và những người con gái sống trong thành phố này, bài hát bỗng trở thành…trật lấc. Thành phố nơi bà ở là “Thành phố Lính” mà. Sáng chủ nhật mới chính là ngày của Lính. Lính đi đầy đường phố, lính trong nhà, lính ngoài ngõ. Lính trên trời, Lính dưới biển. Lính chuyên bắn súng cà nông. Lính chuyên tác chiến ở chốn sình lầy... Ôi thôi Lính ơi là Lính!

Thành phố sống hùng sống mạnh, thành phố đẹp đẽ nên thơ, tình tứ cũng nhờ những bộ Quân phục đủ mọi quân-binh chủng Lính góp phần. Ngoài việc tăng thêm an ninh cho thành phố, chính những bộ quân phục và những người mặc nó, dù bất cứ vì một lý do gì, đã nói lên được lòng dũng cảm, tính can đảm của một người trai thời loạn, biết xả thân góp sức để chống bọn cộng sản xâm lược từ miền Bắc, oai nghi và hùng tráng cỡ nào. Từ đó đã làm rung động biết bao con tim của những người con gái trẻ ( Chắc cũng có nhiều bà chị lớn tuổi?), họ đã hồi họp chờ đợi, chờ đợi một sáng chủ nhật đẹp trời, chàng oai nghi trong bộ quân phục quân trường, trên vai đeo dây biểu chương, dưới chân đôi giày…láng coóng. Hay bộ đồ xanh nước biển còn đượm mùi muối mặn sau một chuyến hải hành. Hoặc khi hoàng hôn xuống, người lính trở về trong bộ đồ bay còn vương mùi thuốc súng, mùi tử thi lẩn quất sau một ngày hành quân tiếp tế, tản thương….còn nhiều và nhiều lắm, nhưng tất cả đã xa rồi, và qua thật lâu rồi.

Với cuộc chiến kéo dài gần một phần tư thế kỷ, có biết bao nhiêu người trai khoác chiến bào ra ngoài mặt trận. Bà Tá đây thuộc thành phần lở dở lươn ươn, già chưa qua mà trẻ cũng không dừng lại, nên tuổi trưởng thành cũng phải …anh dũng hiên ngang mà làm quen với lính, và hãnh diện làm người tình của ..lính trận miền xa là ông Tá già đây. Nhìn ông lúc này bà nửa muốn cười to mà nửa muốn rơi nước mắt. Ai đời ông mặc bộ đồ lính, đội mũ lính trận mà đi vào chân đôi giày đi…ăn cưới, trông nó sao sao ấy. Bà không biết ở xứ sở này có thể nào tìm lại cho ông đôi “bốt -đờ-sô”?, chứ nếu xỏ vào đôi giày “boot” của chàng cao bồi Tếch-xịt lại càng thảm não, chẳng lẽ phải mang đôi giày thể thao hàng ngày? Có lẽ đó là điều mà ông chồng bà vẫn ngần ngại không muốn mặc lại bộ đồ lính trận để ra ngoài hay tham dự những buổi lễ ?


Càng nhìn ông, bà lại càng thương cảm, xót xa. Chính bộ đồ này bà đã sửa cho ông mặc thật vừa vặn ngày nào, bây giờ thì rộng trên, rộng dưới, đã rộng thì chiều dài càng dài thêm, hay là người ông đã rút ngắn lại?. Bộ đồ trận màu xanh còn lại dấu vết của những…chiếc lon trên vai áo, phản lại mái tóc màu muối tiêu. Ông Tá đã già thật rồi!
Bà Tá lặng lẽ thở dài cùng lúc ông cởi bộ đồ lính ra, xếp gọn gàng và đưa lên ngực ôm trọn trong đôi vòng tay. Ông nâng nui, vuốt ve như đang âu yếm một người tình. Phải! Ông âu yếm nâng nui bộ đồ là lẽ đương nhiên. Suốt bao nhiêu năm chinh chiến ông còn lại gì, ngoài bộ đồ lính mà chính tay bà đã hì hục đào một hố nhỏ sau vườn nhà, chôn dấu nó trong một thùng đựng dầu lửa vừa được khoét nắp.

Trong những ngày hỗn loạn đó, Bà đã đón ông về nhà trong trạng thái thất thần, hoảng loạn, hoang mang bức rứt, lẫn lo âu sợ sệt. Một thân xác tiều tụy với bộ đồ bà ba đen xin được của ai đó trên đường về….Bà nhìn ông thương cảm xót xa, vợ chồng thiếu điều ôm nhau mà khóc, may mà trong nhà còn giữ lại bộ đồ cũ ông để khi nào về thành phố bị kẹt thì có mà mặc, và bà đã đem chôn giấu.

Rồi có một ngày , có một này chinh chiến tàn, anh trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất năm nao. Xin trả lại đây, trả lại đây thép gai giăng với luỹ hào sâu, lỗ châu mai với những địa lôi,… có con trâu, có nương dâu…. thiên đường này mơ ước bao lâu…”.

Những lời trong bài ca: “Một mai giã từ vũ khí” của nh/sĩ Nhật Ngân vẫn được phát đều đều trên làn sóng của đài phát thanh. Lời hát đẹp đẽ, thơ mộng biết bao, và là điều ao ước của mọi người, bỗng chốc biến thành cơn ác mộng. Bao nhiêu tháng ngày đi chinh chiến, cái chết luôn kề cận, vậy mà ngày…giã từ vũ khí lại là ngày thảm hại nhất.. Sự thật quá phũ phàng. Người lính trở về nhà phải trốn chui, trốn nhủi lầm lũi mà đi. Người lính chịu biết bao nỗi uất ức, ngậm ngùi, cay đắng lẫn xót xa, tủi nhục. Kèm thêm nỗi sợ hãi cho chính mình và liên luỵ đến gia đình người thân, đến “bộ đồ Lính” đang mặc trên người cũng không thể giữ. Ôi còn đau đớn nào hơn!

Bộ đồ Lính đâu phải ai cũng có thể mua về để mặc, (ngoại trừ những người làm nghệ thuật trình diễn sân khấu). Muốn mặc vào người, ít nhất phải có 3 tháng quân trường cho một người binh sĩ, và tối thiểu chín tháng cho một cấp chỉ huy. Cũng có những người phải chịu tập luyện dằng dặc suốt 4 năm trời với bộ đồ lính mới được ra trường đi chiến đấu. Và rồi bộ đồ lính đã gắn chặt với cái nón sắt, đôi giày sô cùng cái ba-lô, cây súng trận cho người lính bộ từ năm này qua tháng khác. Dù màu áo có khác nhau, kiểu quần áo có khác nhau, cái nón có đổi màu vì khác quân-binh chủng, bộ đồ lính vẫn đi theo người lính trên khắp 4 vùng chiến thuật, có khi cái “quần” người lính bộ vùng 4 không thể nào khô nổi một ngày vì phải hành quân vùng nước nổi. Cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay nghỉ phép dài hạn tận vùng năm chiến thuật, hay gửi lại những phần máu thịt ngoài chiến trường, bộ đồ lính mới chịu rời xa người mặc nó. Vậy mà đùng một cái, họ phải trút bỏ tất cả, trút bỏ như phủi sạch một món nợ trần? Ngay cả những người vượt thoát đến được vịnh Subic của nước Phi luật Tân ngày đó, cũng đã bị ông TT nước này ra lệnh…lột bỏ hết, vì họ không muốn sự hiện hữu của bộ đồ lính (VNCH) trên quê hương của họ. Thảm thương thay !

Bà Tá lại gần đặt tay lên vai chồng, làm ông giật mình ngó lại:
-Mình đang nghĩ gì vậy?
-Hồi tưởng lại những ngày được hiên ngang mặc bộ đồ Lính.
-Ở đây em vẫn thấy nhiều người mặc trong những dịp lễ lạc, hội hè.., nếu mình muốn…
Trầm ngâm một lát, ông thở dài:
-Nhiều lúc ngắm nhìn lại, tôi thấy rộn ràng, xao xuyến lắm, cũng muốn mặc vào để đi dự lễ lạc với anh em đồng đội năm xưa, ít ra cũng góp phần nói lên được tinh thần Quốc gia còn sót lại (trong khi những đồng đội trong nước rất muốn mà không thể nào thực hiện được). Nhưng nghĩ đến những ngày tháng năm xưa, mình đã tụt bỏ nó để chạy, mà bây giờ lại hiên ngang mặc vào để đi chỗ nọ chỗ kia, tôi thấy nó làm sao sao ấy bà à!
-Thì đó là ý riêng của mình. Nhưng theo em, xét cho cùng đâu phải lỗi tại mình. Có chăng là lệnh trên ban xuống, người lính chỉ có bổn phận thi hành trước,…khiếu nại sau. Nhưng khiếu nại ai bây giờ ? Chẳng lẽ tìm tới mấy ông Tướng lãnh đạo để hỏi.
-Bà nói cũng chưa đúng. Tướng cũng có người hèn, kẻ dũng! Có những ông tướng thà chết chớ không chịu khuất phục trước kẻ thù. Họ đã tuẫn tiết hy sinh trước khi cộng quân tiến chiếm doanh trại! Anh dũng thay!
-Bởi vậy nên hằng năm, những người Việt Quốc gia tị nạn CS vẫn làm lễ tưởng niệm những người “Chiến sĩ Bất Tử” đó. Và mới đây đã có điêu khắc gia Phạm thế Trung ở CANADA đã khắc tượng những ông Tướng đó đặt ở đài tưởng niệm bên đó.
-Có mặc đồ lính không?
-Có đủ quân phục, cấp bực, mũ nón và huy hiệu quân binh chủng nữa đó. Ông ấy khắc rất tinh xảo từng nét đặc thù trên khuôn mặt, trên màu áo… của mỗi vị Tướng.
-Chút nữa bà chỉ cho tôi xem, không chừng nay mai tôi đi tìm đôi giày, rồi tôi cũng sẽ mặc lại bộ đồ Lính này trong dịp lễ tới. Cảm ơn “người yêu của Lính năm xưa!” nhờ bà gìn giữ kín đáo mà tôi còn lại bộ đồ Lính này, phải mặc lại nó, dù sao thì mình cũng từng là …NGƯỜI LÍNH!!

!

Thứ hai, ngày 26 tháng mười năm 2009

Viết theo lời kể: BỐN MƯƠI BA NĂM VẪN NHỚ ĐẾN NGƯỜI




Anh thương!


Chiều nay nơi em ở, trời đã se se lạnh, gió giao mùa và những chiếc lá xanh đồng loạt đổi màu, tất cả những rừng cây trong một vùng rộng lớn đã chuyển thành màu vàng rực, nhất là lúc chiều về, ráng chiều đổ dài trên những tàng cây tạo thành bức thanh tuyệt mỹ. Tiếc rằng em không là họa sĩ hoặc nhà thơ, để vẽ tranh và làm thơ ca tụng nét đẹp của thiên nhiên ấy.
Và anh, cũng không có đây để cùng em đứng nhìn phong cảnh hữu tình của mùa thu đông bắc Hoa Kỳ

Còn gì nữa đâu, đã hơn bốn mươi ba năm rồi. Em không thể đếm được có bao nhiêu đêm em chắp tay cầu nguyện, linh hồn anh có lẽ đã siêu thoát hoặc đã đi đầu thai trở lại kiếp con người. Nhưng trong em, người còn nơi dương thế, không thể nào phai nhòa những kỷ niệm thuở ban đầu chúng mình gặp gỡ, để rồi nợ duyên đưa đến, sợi dây tơ hồng đã kết chặt đôi ta, nhưng sao anh không cho em làm tròn bổn phận vợ hiền mãi mãi đến khi răng long đầu bạc, mà anh nỡ bỏ em để ra đi biền biệt không về khi chúng mình còn quá trẻ?!.




Anh biết không? Chiều qua em nhận được một cú phone, người bạn cho biết khoá 16 sĩ quan Trừ bị Thủ Đức của anh sẽ có cuộc hội ngộ tại Cali trên đất Mỹ này. Em bồi hồi xúc động khi người bạn nhắc đến tên anh. Bao nhiêu người sẽ gặp gỡ, nhắc chuyện năm nào khi tóc hãy còn xanh, bây giờ đã bạc. Và tên anh cùng một số anh em đồng ngũ khác vẫn còn được nhắc nhở với những “nén hương tưởng niệm”!. Em nghĩ mình không còn nước mắt để khóc nữa vì đã trải qua bao nhiêu năm tháng với ngần ấy nỗi truân chuyên, sóng gió cuộc đời. Nhưng không, em đã khóc anh ạ! Tuy không rũ rượi, thất thần như ngày nào em nhận được tin anh và anh ruột của em đã anh dũng hy sinh trước sự tấn công biển người của những người mệnh danh là “giải phóng” nhưng thật sự là đi xâm lấn miền Nam.

Ngày đó, trời xui đất khiến làm sao người anh ruột của em đi trình diện nhập ngũ cùng ngày với anh, để rồi anh Xuyên của em và anh vào cùng khoá 16 SQTB Thủ Đức, hai người lại ở cùng một tiểu đội, trung đội và đại đội trong suốt chín tháng quân trường. Hai người bạn đồng ngũ đã sẻ chia từ cà-mên cơm nhà bàn, từng miếng bánh ngọt tiếp tế sau những buối thăm nuôi của gia đình. Đến ngày ra trường, anh đã không ngần ngại theo anh của em chọn về đơn vị Địa phương quân tỉnh Kiến Hòa, dù quê anh mãi tận Đại Ngãi-Sóc Trăng.

Khi về tỉnh, dù anh của em và anh không còn chung đơn vị, nhưng mối giao tình từ những ngày mới nhập ngũ đến khi mãn khoá, đã kéo anh lại gần gia đình em hơn, tình cảm thân thiết giữa hai người bạn đã đưa đường dẫn lối cho anh dành nhiều cảm tình cho cô em gái nhỏ của bạn. Mỗi buổi tan trường về, cô nữ sinh mười bảy tuổi của trường Trung học công lập Kiến Hoà đã có người Lính lẽo đẽo theo sau làm...bảo vệ. Em sượng sùng mỗi khi có người bắt gặp, nhưng cũng vui sướng trong lòng vì biết anh đã để ý thương em, cô em út dễ thương của người bạn đồng ngũ của mình, và ngầm hãnh diện với chúng bạn. Ngày đó, quen biết được một Thiếu Úy tốt nghiệp từ quân trường Thủ Đức, đâu phải là chuyện dễ!

Thật tình Ba Má em không muốn em lấy chồng là Lính! Ông bà cứ lo sợ em sẽ thành góa phụ khi tuổi đời còn non nớt. Một đứa con trai làm lính, đã khiến ông bà lo sợ, hồi hộp từng đêm, mỗi khi có tiếng súng từ trong những khu làng xa xa vọng về. Thời gian 64-65, những cuộc chiến ác liệt đã xảy ra, người dân thường cũng còn bị tai bay vạ gió mà thiệt mạng, huống gì những người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu. Nhưng vì em đã trót thương anh, em cũng không biết tự bao giờ, và vì đâu. Tình yêu đến đâu cần giải thích. Sự oai hùng của người lính chiến đã phá tan bức rào ngăn cản của ba má và cả gia đình em, cuối cùng ông bà chấp nhận cho anh làm con rể.


Ngày cưới em! Ôi làm sao em quên được khi em lên xe hoa mà không có chàng rể dìu đi như những đám cưới thường tình. Em bước thấp bước cao trong buồn vui lẫn lộn. Em vui vì từ nay đã là vợ một chiến sĩ can trường mà em thương, buồn vì anh đang nằm trong Quân y viện không biết khi nào bình phục? Anh đã bị thương trong một trận giao tranh ác liệt trước ngày đám cưới hai tuần. Và mãi đến gần trọn năm sau, anh mới xuất viện về lại đơn vị. Anh may mắn không bị tàn phế vĩnh viễn, nhưng với những thương tích còn tồn đọng, anh được thuyên chuyển về trung tâm huấn luyện Nghĩa quân Hưng Điền. Lần nầy hai anh em, anh vợ-em rể lại có dịp sát cánh bên nhau cùng làm huấn luyện viên cho lính.

Nhưng anh đã bỏ em để ra đi không bao giờ trở lại. Sự lo sợ của ba má em đã biến thành sự thật. Ba má em đã chết điếng và em đã ngất xỉu khi hung tin báo đến gia đình. Ba em đã hớt hơ hớt hải đạp xe hằng mấy cây số chạy đến trung tâm huấn luyện, để thấy anh của em nằm sấp trên giao thông hào, một viên đạn xuyên qua ót, cái nón sắt không đủ sức bảo vệ mạng sống con người, mà đạn dữ thì vô tình xuyên suốt. Còn anh, anh nằm chết trên vũng máu với nhiều vết đạn qua người. Đêm ấy, đêm 23 tháng 3 năm 1966, với chiến thuật biển người, cả một trung tâm huấn luyện nghiã quân với 13 vị Sĩ quan huấn luyện viên, chỉ còn sống sót một Đại úy vì …vắng mặt có phép(?). Năm ấy, anh và anh trai của em cũng vừa tròn hai mươi ba tuổi.

Hai cái hàng (hòm) nằm song song trước cửa nhà, những tiếng khóc than não nuột của gia đình đã không đem hai người con yêu trở về với đời sống được. Má em đã chết ngất mấy lần, và em, bước đi sau hai cỗ áo quan như kẻ không hồn. Em đã thành goá phụ khi vừa tròn hai mươi tuổi. Cuộc chiến tranh do những người mệnh danh “giải phóng” đã mang đến và cướp mất không biết bao nhiêu mạng sống những con người “tự vệ” một cách tàn nhẫn và vô lý.

Để hôm nay, bốn mươi ba năm có lẻ, em ngồi đây viết những hàng chữ này trong ngấn lệ để nhớ về anh:


Cố Trung úy NGUYỄN TẤN KẾ! người yêu tuổi nhỏ và người chồng chưa trọn hai năm. Anh đã yên phần anh trong ngần ấy năm dài. Nhưng em, dù muốn quên, nhưng sao hoài vẫn nhớ. Không biết đến bao giờ, hình bóng với tên anh thôi lởn vởn trong đầu em? Có chăng là ngày em xuôi tay nhắm mắt!. Nếu có kiếp sau, không biết mình có còn cơ duyên gặp lại.?

Maryland, tháng 10, 2009
Nguyễn Thị Hoài Trang. Quả phụ cố Tr/Úy Nguyễn Tấn Kế.

Thứ hai, ngày 12 tháng mười năm 2009

HOUSTON, MỘT NGÀY ĐÁNG NHỚ-TRI ÂN CHIẾN SĨ VIỆT -MỸ

Sáng chủ nhật, ngày 11 tháng mười năm 2009, trời bỗng dưng tạnh hẳn cơn mưa kéo dài rỉ rả suốt đêm trước. Không khí lành lạnh để người đi ra ngoài khoác chiếc áo lạnh mỏng thêm duyên.

Bầu trời không nắng hẳn, không gian dịu nhẹ những vầng mây. Hôm nay là ngày những người Việt tị nạn cộng sản ở Houston sẽ tham dự một cuộc diễn hành rầm rộ, biểu dương lực lượng do nhóm người trẻ: “Young Vietnamese American Professionals Salute - Veterans Of Freedom” đảm trách để CẢM ƠN và VINH DANH những chiến sĩ Việt-Mỹ đã chiến đấu chống kẻ thù cộng sản xâm lược năm xưa, Trưởng ban Tổ chức là Dược sĩ Nguyễn Khoa Diệu Thảo...


Trưởng ban tổ chức D/S Diệu Thảo


Cuôc diễn hành bắt đầu lúc một giờ trưa, nhưng những người đi xem đã đứng hàng hàng dọc theo lề đường trên đại lộ Bellaire, một khoảng đường dài đã được cảnh sát ngăn không cho xe cộ qua lại.


US Navy Đại úy Laura Le



Thật không ngờ giữa thành phố xứ người, những người Việt tị nạn cộng sản lại có thể tổ chức một ngày “vui” đáng nhớ như vậy.




Đoàn diễn hành gồm 49 đơn vị, gồm đủ quân dân cán chính, đã được ghi danh từ khi BTC gửi giấy mời. Hình như tất cả mọi đơn vị quân đội ngày cũ đều góp mặt trong đoàn người đi kéo dài một tiếng rưỡi đồng hồ.




Những tiếng hô vang Việt nam cộng Hoà, những tràng pháo tay, những lời chúc tốt đẹp, đều được những người đi xem hô to làm nức lòng những người đã bỏ công sức làm xe hoa, tuy đơn sơ nhưng gợi nhiều kỷ niệm, những bộ quân phục ngày nào ngỡ rằng không bao giờ nhìn thấy nữa, nhưng tất cả đã xuất hiện nơi đây.




Hai chiếc Trực thăng bay lượn trên bầu trời làm nôn nao trong dạ, khiến người xem hồi tưởng những kỷ niệm năm nào..



Sau cuộc diễn hành, tại tượng đài Tử sĩ, là buổi lễ truy điệu dành cho Tử Sĩ Việt-Mỹ và tặng vòng hoa tượng trưng cho một số chiến sĩ Người Mỹ. Những giọt nước mắt chực rơi trong nụ cười rạng rỡ.





Lâu lắm rồi, những người lính già tìm thấy lại chút niềm vui từ đám con cháu, những đứa bé ngày nào đặt chân đến xứ sở này mới chập chững biết đi, và những cháu đã …chôn nhau cắt rốn tại nơi này. Lời của một Thiếu tá hải quân trong quân đội Mỹ hiện diện điều khiển chương trình, đã làm nhiều người đỏ mắt: “Chúng cháu có được ngày hôm nay, là nhờ công ơn của quí bậc cha chú cả Việt lẫn Mỹ,…những người đã hy sinh suốt cả một đời vì chinh chiến, chống kẻ thù xâm lược…. Và khi đến được nơi này, những người bản xứ đã cưu mang, giúp đỡ. Chúng cháu phục vụ cho xứ sở này, là góp phần gìn giữ cho sự an toàn của chúng ta, cũng là đền trả một phần ơn nghĩa …”





Suốt buổi chiều tối là một ngày hội. Phần văn nghệ với sân khấu ngoài trời đã do các anh chị em “Amerasian ” phụ trách. Ở đó có sự xuất hiện của nghệ sĩ Nam Lộc, người luôn sát cánh để giúp đỡ các em- cháu trong mọi tình huống. Người đi dự đông nghẹt, để nghe những tiếng hát từ trái tim của những người con lai như Trường Thanh, Randy… và rất nhiều ca sĩ ở Houston. Ghế ngồi do các em cháu “Lend A Hand” sắp xếp. Đã vậy còn có những hội cựu quân nhân Mỹ -Việt tặng thức ăn, nước uống thả dàn.


Bên trong hội trường Ocean Palace, lúc 7 giờ chiều, cũng đã khai mạc buổi dạ tiệc, với một thành phần khách mời “chọn lọc”.


USAF:Mai Nguyễn,USN Đại úy Tín, USN Đại úy Laura, USN T/Tá Chris

Chương trình đã được US Navy Thiếu tá Chris (Chinh)Phan điều khiển cùng Ca nhạc sĩ Việt Dzũng. Phần chào cờ ngắn gọn nhưng rất trang nghiêm, bản quốc ca Việt nam được toàn thể những người có mặt trong hội trường cùng cất tiếng hát, âm thanh quyện chặt vào nhau vang rền cả hội trường, như đang tạo nên một sức mạnh tiềm tàng, khác hẳn mọi lần chỉ vài ca sĩ ôm mi-cờ-rô lãnh xướng.

Sau bản quốc ca Hoa Kỳ là một phút mặc niệm im lặng hoàn toàn, nếu con ruồi bay qua cũng nghe thấy được, thật đúng với ý nghiã để người sống có lời cầu nguyện dành cho người đã khuất, hoặc đang bị giam cầm tù tội hay thất lạc ở chốn nào? (khác hẳn với những buổi lễ trước đây do nhiều hội đoàn tổ chức, đã là “phút mặc niệm-A moment of silence” mà ồn ào, nào nhạc rú gọi hồn, nào ngâm thơ vang dội cả đến năm phút đồng hồ cũng chưa xong)


Lần đầu tiên những người Việt nam tị nạn được chứng kiến một giờ phút “tưởng niệm” dành cho những quân nhân thuộc diện POW-MIA với song ngữ Mỹ-Việt (do T/T Chris và Việt Dzũng dẫn giải, USN Đại úy Tín Trần sắp xếp).


Việt Dzũng và T/tá Chris



Ở đó, hai người Sĩ quan đứng trong tư thế nghiêm, đang hướng về nơi chiếc bàn nhỏ, chỉ có một chỗ ngồi, dành cho một “tù nhân” nhỏ bé, bị “yếu thế” trước kẻ thù, một chiếc ghế trống không người ngồi, trên bàn trải một tấm khăn trắng, tượng trưng cho sự tinh khiết, tâm hồn trắng trong của người chiến sĩ, sẵn sàng phục vụ cho Tổ quốc. Một đóa hồng lẻ loi, đơn độc, màu hồng tượng trưng cho màu máu của những chiến sĩ, và đóa hoa là sự tin tưởng rằng họ sẽ trở về.





Một ngọn nến lung linh, là nguồn sáng hy vọng. Một ru-băng màu vàng, là niềm tin người về không thiếu sót một ai. Một cái ly úp ngược xuống, rằng người chiến sĩ đã không thể uống cạn chén với đồng đội đêm nay. Một lát chanh để trên một cái đĩa nhỏ, nói lên dùm số phận đắng cay, chua chát của người chiến sĩ, và những hạt muối rắc lên lát chanh kia, là những giọt nước mắt của người thân, của gia đình rớt xuống hằng giờ để chờ đợi bóng người chiến sĩ trở về… Cảm động vô ngần dưới ánh đẻn mờ ảo, nên khi đèn thắp sáng, những bàn tay đã vội quẹt ngang vầng mắt.


Những người dân bản xứ đã giúp vui bằng những màn vũ với tiếng hú như tiếc thương , hối tiếc một thời tung hoàng ngang dọc trên một xứ sở rộng mênh mông, mãi đến khi có bóng dáng người da trắng xuất hiện. Trong chiến tranh VN, họ cũng đã hy sinh cả hàng ngàn con cháu của nhiều bộ tộc.





Chương trình văn nghệ do các em, các cháu trong “Lend A Hand” biểu diễn thật sống động, nên nhận được nhiều tràng pháo tay không dứt, xen kẽ với những lời phát biểu, tặng Plaque lưu niệm của nhiều Hội đoàn, dân biểu, quân nhân Mỹ-Việt được mời do trưởng ban Tổ chức D/S Diệu Thảo điều hợp,.

Một màn đốt pháo bông sáng rực cả một khu vực sinh hoạt sau khi mọi chương trình đã kết thúc. Tiếc rằng, lá cờ Việt nam được đốt lên từ đầu, nhưng vì đặt quá thấp nên nhiều người xem đã không thấy được. Những tiếng vỗ tay tán thưởng không ngớt dành cho BTC . Người đi xem ra về vẫn còn xuýt xoa khi tiếng hát của ca nhạc sĩ Việt Dzũng từ trên khán đài còn vọng lại với những bản hùng ca.


Xin cảm ơn Ban Tổ Chức, những người trẻ và rất trẻ, nhưng đã tổ chức, điểu khiển mọi sinh hoạt nhịp nhàng, xuôi chèo mát mái, khiến “Ông Trời” cũng thương tình, dành một ngày nắng êm, không mưa, chỉ gió nhẹ, để người đi xem không thấy nắng đầu và không chảy một giọi mồ hôi, dù ngồi mấy giờ đồng hồ ngoài trời cũng không thấy mệt.
Một người Vợ Lính và Mẹ Lính, rất hãnh diện về thế hệ con cháu của mình.
Lê thị Hoài Niệm

Thứ năm, ngày 08 tháng mười năm 2009

TÂM CẢM

Sáng nay, tình cờ nghe đài phát thanh phát đi từ nước Pháp (RFI), có đoạn xướng ngôn viên phỏng vấn “nhà nghiên cứu Nguyễn đắc Xuân” về vụ Bát Nhã ở bảo lộc Lâm đồng. Ông ta nói.. “ngày trước dưới chế độ “Thiệu”, khi quân lính tấn công vào chùa ở Huế, ông đã lãnh đạo một số phật tử đánh trả lính VNCH, còn bây giờ thì các em, các cháu chỉ biết cầu nguyện, ông rất phục và ông là một đảng viên cộng sản, có bổn phận phải bảo vệ họ”.

Ai không biết NĐXuân là một trong những tên “đồ tể”, đã đưa VC vào để giết hại gần sáu ngàn đồng bào tại Huế trong dịp tết Mậu thân, bây giờ ngồi một chỗ để “bảo vệ” những tăng thân làng mai Bát nhã, không biết ông bảo vệ bằng cách nào ? Chẳng lẽ cũng ngồi cầu nguyện như những em, những cháu mà ông …phục?.

Quào, nếu cầu nguyện mà linh thiêng thì tại sao ngày trước NĐX phải dùng tới sức người, tới vũ lực để …đánh trả lại Lính VNCH? Có lẽ tại hồi đó lính VNCH quá hiền, lại có tình người, có "tâm", không nỡ “đàn áp “ cái bọn phá rối nhưng mang tượng Phật ra làm bia đỡ đạn, bọn “ăn cơm quốc gia mà thờ ma cộng sản” , vì dù sao chúng cũng là “đồng chủng”! chỉ khác là bọn chúng không có óc nhận xét,không bao giờ biết phân biệt đúng hay sai.

Nếu cầu nguyện “linh thiêng”ở chế độ này, tại sao các tăng thân làng mai tu viện Bát nhã lại bị ‘đuổi “ ra khỏi chùa, đã vậy , tới trú ngụ chuà phước Huệ cũng đang bị đuổi luôn? Để đến nỗi “giáo sư Nguyễn Lang” ( bút danh của Nhất Hạnh) phải viết thư kể công với Tên cộng sản Nguyễn minh Triết nhỉ?
Có phải chăng vì bọn cộng sản vô tâm? loại chuyên môn “ăn cháo đập bát”, dụ được thiền sư Nhất hạnh “giải oan” cho chúng, giờ chúng hết bị…oan rồi nên hất cẳng Thiền sư một cách ngon ơ!

Không biết đến một lúc không còn “cầu nguyện” được linh thiêng nữa, ông NĐX có dám bảo vệ các em , các cháu bằng cách …nhào ra đánh Công an cộng sản không nhỉ? Hay là chưa ra tới nơi đã bị chúng thộp cổ, còng tay tẩn cho một trận vì tội…phá rối cách mạng, âm mưu lật đổ nhà nước! Chỉ còn một cách là câm mõm lại, ăn năn niệm Phật là vừa. chế độ này dã man, tàn ác, độc tài, vô nhân đạo, chứ đâu có dễ dãi, tự do, có 'tình người" như thời VNCH!!!

Chủ nhật, ngày 27 tháng chín năm 2009

BÊN TRONG CÁNH CỔNG SẮT SƠN MÀU ĐỎ

Hắn phải nghe theo lời vợ, dù hắn không là tín đồ của “đạo thờ bà”, và luôn luôn nhẩm đọc “thân lệnh: kiên định lập trường”! Lập trường của một thằng lính bị bắt buộc…thua trận và phải lưu vong tận xứ người, nhưng nhất quyết không về lại quê nhà khi nào lá cờ đỏ của phường ăn cướp vẫn còn “ngạo nghễ tung bay” và những tên Cộng sản vẫn còn nghênh ngang như trêu ngươi những thằng người như hắn.


Nhưng hắn phải về, vợ hắn nói đúng: “nếu chế độ này nó không sụp mà Mẹ mình sụp thì sao?” Hắn nhớ thương Mẹ quá chừng chừng. Đã hơn ba mươi năm rồi còn gì. Hắn rời xa mẹ hắn từ ngày ba hắn từ giã chốn dương gian giặc giã lan tràn, bỏ lại mẹ hắn và đám con ba đứa, hắn là thằng con lính lớn nhất nhà, ngày ấy mẹ hắn chỉ mới tròn trèm 5 chục. Bây giờ bà đã già quá rồi, hắn gọi điện thoại thăm bà hoài, dù thính giác của bà đà lểnh lãng.

Tội bất hiếu nặng quá! Hắn mà có tội đó với chính người mang nặng đẻ đau sinh ra mình, nuôi mình khôn lớn thì làm sao mà dạy con? Trường hợp bất khả kháng, không có cơ hội thì còn tha thứ được. Nhưng bây giờ, “thời cuộc đã đổi khác”(?), nhiều người vẫn bảo thế. Người ta đi tới đi lui hà rầm, rủ nhau về du lịch đi từ Bắc vô Nam, từ Nam ra Bắc không sót hang cùng ngõ hẻm nào, miễn sao trong túi rủng rỉnh đô la (đừng bàn ra bàn vô chống đảng). Hắn phải làm theo chỉ thị vợ hắn ban ra: “về thăm Mẹ già trước khi quá trễ!”
Hắn đành mắt nhắm mắt mở mà về, vì Mẹ!

Chiếc Toyota 4 cửa chạy chầm chậm để hắn nhìn đường sá. Ngang qua khu phố chợ Long Hoa, hình ảnh đầu tiên tại quê nhà đập vào mắt hắn, vẫn là con đường lầy lội, bùn đất đỏ tràn lan, những người đàn bà đang xoắn quần lội qua vũng bùn để vào chợ. Không biết bên trong khang trang, đẹp đẽ cỡ nào? chứ hơn ba mươi năm rồi mà chung quanh chợ dơ vẫn hoàn dơ, sửa chữa vẫn hoài sửa chữa, làm hắn thất vọng vô cùng. Ngày xưa trong hoàn cảnh chiến tranh, bị “anh em” phía bên kia về phá hoại liên miên đã đành, chứ bây giờ sau mấy chục năm hòa bình rồi, sao vẫn còn lầy lội, bẩn thỉu như xưa?





Xe chạy ngang qua khu vực Tòa Thánh, trực chỉ về hướng nhà của hắn. Con đường này ngày xưa vắng vẻ, hoang vu, cũng lắm ổ gà, đất đá lổn ngổn, lảng ngảng, nhưng không ồn ào, lại có vẻ thơ mộng, bởi hai hàng cây gòn rợp bóng ven đường. Nhờ vậy những buổi đạp xe đi học ở trường tỉnh, con đường dù dài hun hút, vẫn không làm bọn hắn thấy mệt nhiều, nhất là những buổi trưa hè, đạp xe theo sau “áo trắng tan trường”, dù cả hai bên đều mồ hôi ướt đầm lưng áo, nhưng vẫn mang mang những nét tình tứ, mộng mơ. Sau này về Sài gòn đi học, con đường Duy Tân có nhiều “cây dài bóng mát” cũng không nhiều bóng cây cao bằng con đường tuổi nhỏ hắn đi qua.

Nhưng bây giờ thì khác quá, làm hắn lại buồn lòng. Con đường xưa giờ đã hoàn toàn thay đổi, người ta đã chặt hết cây để nới rộng lòng đường, nhà cửa mọc lên san sát nhưng vô cùng mất trật tự. Quán xá, tiệm cà phê hát nhạc giựt râm ran, tiệm cắt tóc, tiệm sửa xe Hon da, nhà may quần áo, nhà bán xi măng, v…v…đầy dẫy hai bên đường. Chẳng bù với ngày ấy, mỗi một gia đình là một vuông đất rộng thênh thang, sau vườn đầy ắp cây ăn trái, như nhà hắn có đến 4 cây mít, cứ đến mùa là quả nặng trĩu cành, trái nào cũng to đoàng ôm không hết vòng tay, chín lừng thơm nức mũi. Rồi thì mãng cầu, nhãn, sa-pô-chê, còn đu đủ là đồ bỏ v.v…. Thế mà hôm nay, chỉ thấy nhà và người thế chỗ, xe cộ lên xuống nườm nượp, đất đỏ văng tung tóe, nhất là xe Honda 2 bánh với tiếng nổ ầm ầm văng khói mù trời đất. Người đâu mà xây cất nhà cửa nhiều quá vẫn là câu hỏi lởn vởn lờn vờn trong đầu hắn.






Xe chạy chầm chậm ngang qua khuôn viên trường tiểu học, hắn chợt mừng vì biết đã đến gần nhà, vì ngôi trường này là nơi đầu tiên thầy giáo dạy cho hắn biết cầm cây bút và đọc chữ a-b-c. Đã bao nhiêu năm rồi không có gì thay đổi ngoài bảng hiệu tên trường. Hình như học trò quá đông mà phòng ốc vẫn y nguyên, lớp sơn loang lổ, sân trường vẫn nền đất hoang sơ, chỉ hai cây cổ thụ bên hông trường là lớn thêm theo năm tháng. Hắn thở dài vì một thoáng so sánh vắt ngang qua bộ nhớ. Cạnh nhà hắn phía bên kia nửa vòng trái đất, cũng một trường tiểu học, mà sao nó đồ sộ, khang trang to lớn hơn cả một trường …đại học bên này. Hắn buồn.
Một thoáng ngỡ ngàng khi chiếc xe dừng hẳn lại trước cánh cổng sắt màu đỏ, thằng cháu đi về cùng với người tài xế xe quen của nó, nhe răng cười và nói đã tới nhà rồi.


Hắn bước xuống xe mà chân loạng choạng, nửa muốn bước tới, nửa lại chùn. Sự ngại ngần trước căn nhà như xa lạ đã kiềm hãm sự thôi thúc muốn bương chạy ào vào nhà để gọi mẹ, để được ôm bà vào lòng, để được sờ nắn hình hài, vóc dáng thân yêu của người mẹ già sau ngần ấy năm xa cách, và cả người em gái của hắn nữa. Ngày hắn đi, con bé còn độc thân, bây giờ đã con đàn con đống. Nhưng cánh cổng sắt sơn màu đỏ đã chận ngang sự nôn nóng trong lòng hắn. Hắn chỉ đứng xa những chấn song và cất cao tiếng gọi mẹ sau lời gọi mở cổng của thằng cháu..

Người đàn bà đứng tuổi chậm chạp cầm cái chìa khoá tra vào ổ, cùng lúc ngó chăm chăm vào hắn, như muốn hỏi ai đây, thằng cháu cười cười hối thúc mở cổng lẹ lên.
Cổng mở. Hắn muốn nhào tới ôm lấy em gái hắn, nhưng không biết tại sao hắn không thể nào thể hiện tình cảm của mình, có lằn ranh vô hình nào đó đã hiện hữu trong tình thân giữa anh em hắn. Và người em đã làm thay hắn, khi biết người đàn ông đứng đó là anh ruột của mình đã trở về thăm nhà sau ngần ấy năm dài. Cô ta hét thật to và nắm tay hắn ù té chạy vào nhà gọi mẹ.

Mẹ hắn quờ quạng cầm cây gậy lần bước đi. Hắn đứng chết trân và khóc lớn tiếng. Mẹ hắn già nua bệnh tật như vậy sao? Hắn ôm chầm lấy mẹ, nhấc bổng bà lên và xoay bà mấy vòng với nước mắt nước mũi chảy dài, nụ cười nhăn nheo của bà làm hắn càng khóc to hơn nữa. Hắn khóc nhưng mọi người chung quanh, ngay cả mẹ hắn, đều cười vui.
Ngày về nhà đầu tiên của hắn đâu khác chi triệu người bỏ xứ ra đi ngày ấy. Hắn biết mẹ hắn là người vui nhất, bà cười nói huyên thuyên, bà hỏi trăm ngàn chuyện, hắn cứ để bà tự nhiên nói, hắn trả lời ít ỏi, vì đôi tai nghểnh ngảng nghe câu đựơc câu mất của bà. Hắn thương mẹ quá chừng chừng. Bà càng sờ soạng lên hình hài đứa con trai bao nhiêu, nỗi ân hận dày vò trong hắn lại cuồn cuộn trào dâng ngần ấy. Hắn hối tiếc, phải chi hắn về sớm hơn vài năm, thì mẹ hắn đã nhìn rõ dung nhan đứa con trai lớn của mình. Và bà đã nghe rõ được những lời yêu thương trìu mến từ cửa miệng đứa con một cách rõ ràng, thích thú.


Hắn vui lắm! hắn thầm nói lời cảm ơn tới vợ hắn đang ở bên kia nửa vòng trái đất. Cảnh mẹ và con gặp nhau, tình cảm chất chứa bao năm nó tuôn tràn như dòng suối mùa lũ, nó chảy cuồn cuộn, ào ào, liên tục làm quặn lòng thằng người luôn dùng lý trí để xét suy, hành xử mọi việc. Chỉ mới quá nửa ngày, mà mẹ con hắn đã đi lại một quãng đường của thời gian hơn ba mươi năm dài đằng đẵng.

Ngày ấy, trong căn phòng hành quân của phi đoàn ở vùng 4 chiến thuật, nơi mà có những vị Tướng anh hùng, tuyên bố sẵn sàng chọn địa thế này làm căn cứ địa “tử thủ” để chống bọn Cộng sản xâm lăng, nếu thủ đô lỡ lọt vào sự kiểm soát của quân địch. Hắn trông thấy “bảng phi vụ” có sẵn tên phi hành đoàn có tên hắn, số máy bay, nhưng thiếu giờ bay và nơi làm việc, nên cứ ngồi chờ (stand-by), mà không biết rằng đã có những cấp chỉ huy cũng như vô số bạn bè đà bỏ ngũ trốn đi.Họ âm thầm, lặng lẽ tìm đường thoát thân cho riêng cá nhân và gia đình mình. Chỉ có hắn và mấy đồng đội độc thân là triệt để tuân hành kỷ luật, dù pháo địch đã bắt đầu bắn vào phi trường. Mãi đến khi nghe “Thông điệp” tuyên bố đầu hàng Cộng sản của Tổng thống Dương văn Minh từ chiếc radio nhỏ trên bàn, làm bọn hắn rụng rời, chết điếng. Thế là hết!





Ngày ấy, trong cơn hỗn loạn, hoang mang cùng tột, hắn đã cùng mấy đồng đội chạy bay tóc băng qua phi đạo, nơi đang bị đạn pháo của địch bắn nổ rền trời. May quá còn chiếc trực thăng nằm im lìm trong “ụ” như chờ đợi hắn đến để phục vụ lần cuối. Tiếng nổ của máy và cánh quạt quay đều, bình xăng còn đầy làm hắn cảm thấy nhẹ người, vội cất cánh bay lên. Ngồi trước cần lái, người đầu tiên hắn nhớ đến là mẹ. Hắn đã muốn quay đầu chiếc trực thăng bay về với mẹ, rồi sẽ ra sao thì ra. Nhưng những đồng đội trên tàu đã ngăn không để hắn làm theo điều hắn nghĩ. Nước mắt lưng tròng, hắn đã gọi thầm tên mẹ để nói lời từ giã và điều khiển con tàu quay mũi về hướng Côn sơn theo yêu cầu của đa số.

Để rồi cuối cùng, dưới cơn mưa tầm tã, những giọt mưa buồn hay là giọt nước mắt tức tưởi của những người lính, mà suốt thời trai trẻ đã gắn liền với chiếc áo lính và những cuộc hành quân. (Làm lính lái trực thăng mà không bay hành quân đổ quân diệt địch, tiếp tế, tản thương, thì chẳng lẽ ngồi một chỗ để đánh mạt chược?) Chiếc trực thăng của hắn, cũng cùng số phận của nhiều trực thăng đơn vị bạn, khi đáp xuống sàn tàu chiến hạm Mỹ. Hắn đâu còn đủ can đảm để tự mình “đập tàu xuống nước”, nên chỉ biết đứng nhìn con tàu đã cưu mang mạng sống của chính mình và biết bao nhiêu người trong ngần ấy năm tháng bị xô xuống biển sâu mà lòng quặn đau, buồn não ruột. Nhưng nỗi buồn cũng bị xé nát từng mảnh nhỏ trước cảnh tượng ồn ào, hoang mang lo lắng của rất nhiều người đồng cảnh ngộ.


Điều an ủi đã được yên bình cho bản thân, không làm hắn quên đi nỗi uất hận thương đau. Nhất là khi tàu cặp bến “Subic bay” của nước Phi luật Tân, Tổng thống Marcos của nước đồng minh VNCH mới tuần trước, giờ đã quay ngược kim đồng hồ 180 độ, ra lệnh …lột hết những bộ đồ trận, nón, giày của những người lính đang còn khoác trên người. Hắn cởi bỏ bộ đồ bay mà hồn vía cũng bay theo, người lâng lâng muốn ngã quị. Người ta trao cho hắn chiếc áo thun trắng và quần màu xanh đậm của “US Navy” rộng thùng thình để mặc vào người, che dấu một nỗi tủi nhục cùng tột. Trong hắn lúc đó là nỗi buồn, sự giận dữ và niềm uất hận đang chen lấn nhau qua từng hơi thở. Hắn hận cho chính mình bất lực, cuối cùng cũng “trốn chạy”, bị sỉ nhục vì làm người Lính thua cuộc, dù rằng trong những năm khoác chiếc áo bay, hắn cũng đã vào sinh ra tử, lê lết trên thân tàu từ vùng hai tới vùng bốn chiến thuật, đã hai lần bị đạn phòng không của địch bắn rớt phải vào quân y viện. Để cuối cùng phải ra đi trong tức tưởi không lời từ giã. Hắn xa hẳn mẹ từ những ngày tháng đó.




Mẹ hắn, như có mắt thần soi thấu tâm can phèo phổi của đứa con, nên hiểu được tâm trạng của hắn từ lâu đã không trở lại nhà. Trước khi đưa miếng trầu với cau vào miệng, xỉa cục thuốc, thói quen của bà cụ hằng ngày, bà đã mò mẫm cầm tay hắn, bóp bóp mấy cái rồi chậm rãi:

-Bay đã dzề rồi, má gặp lại một lần như dzầy trước khi đi gặp ba bay là tao mãn nguyện. Tao biết, bay có khó khăn, khó xử. Nhưng thôi con à, chuyện gì cũng qua lâu quá rồi, có để mãi trong lòng cũng chẳng được gì đâu. Thiệt ra, nhà này được bình an là cũng nhờ Nó, nếu không có nó đứng ra đỡ đần, che chở, thì tao với em gái bay làm sao chịu thấu, suốt ngày chúng nó cứ kêu lên xã để “làm việc” hỏi cung tra khảo, có làm ăn gì được đâu. Rồi bắt tao đi tìm, kêu bọn bay dzề, đi đâu kêu? Bao tháng năm dài có biết gì tin tức tụi bay đâu? Sống hay chết còn không biết mà, tao với em bay cuối cùng đành chấp nhận nó, để mà sống sót con à! Có Đấng Chí Tôn thương xót, sau đó bay nhắn tin dzề, còn sống ở bển. Má mừng. Từ khi thấy người ta dzề nước nhiều, tao dzà em bay cũng có mong bay dzề, nhưng bay cứ hẹn qwài mà không thấy dzề. Cũng may bay có gọi điện thăm thường xuyên, dzà gửi tiền dzề nuôi nấng gia đình đầy đủ, thôi dzậy cũng được. Cuối cùng bay cũng đã dzề, giờ má có chết cũng mãn nguyện!

Buổi chiều, hắn và người em đang ngồi tâm sự trước cửa nhà, có người mở cánh cổng sắt đi vào trên tay cầm mấy lá “cờ đỏ sao vàng”. Hắn khựng lại và nhìn trân trối vào người đàn ông trông gầy gò, đen đủi, ốm yếu, được em hắn giới thiệu là “ba của mấy đứa nhỏ”.

Người đàn ông niềm nỡ bắt tay hắn. Bàn tay xương xẩu, lạnh ngắt, tự nhiên làm hắn rùng mình.
Bữa cơm chiều đơn sơ, đạm bạc đầu tiên trong căn nhà mới, trên nền đất cũ của bao nhiêu năm tuổi nhỏ làm hắn chạnh lòng. Hắn trệu trạo những hạt cơm cứng ngắt, có cái gì đó ngăn chận, làm những hạt cơm như muốn dừng lại nửa chừng ở cuốn thực quản. Hắn gần như mắc nghẹn, khi người đàn ông là em rể hắn bắt đầu vào chuyện :
-Nước nhà đã “giải phóng” lâu lắm rồi, đã hơn 3 chục năm rồi, nhưng sao mãi đến bây giờ anh Hai mới dzề?
-Ừ thì bận lo làm ăn nuôi con vậy mà!
-Tôi không nghĩ đó là lý do chính đáng. Chắc anh Hai lo sợ một điều gì? Đảng và nhân dân ta lúc nào cũng coi “việt kiều” là những “khúc ruột xa ngàn dặm”, ngày trước lỡ ra đi thì bây giờ hãy trở về để xây dựng quê hương, Đảng và nhân dân ta rất “khoan hồng” và kêu gọi “xoá bỏ hận thù” lâu rồi mà, chắc ở nước ngoài anh cũng đã biết?
Rất bực bội, hắn ngó mẹ hắn, nhưng bà đâu có nhìn thấy nét mặt khó coi của hắn. Người em gái hắn, có lẽ “vô tâm” nên cứ ép hắn ăn, thằng cháu thì nín thinh ngó lơ chỗ khác. Tìm cớ thoái thoát, hắn ậm ờ:
-Cũng có ý định về thăm nhà, nhưng bận làm kiếm tiền để lo cho mấy đứa nhỏ ổn định việc học hành tới nơi tới chốn..
-Thiếu gì người có con phải lo, nhưng người ta vẫn dzề hằng năm!
-Ừ thì…

Hắn bỏ lửng câu trả lời, sự uất nghẹn đang dấy lên, muốn thoát ra nhưng cứ bị chặn lại nên nó càng muốn bứt, sự bực bội dồn trên khuôn mặt. Hắn đang tự hỏi có nên nói ra những điều hắn nghĩ từ bấy lâu nay, hay nghe lời mẹ hắn mà bỏ qua tất cả, mua sự im lặng trong những ngày còn ở lại để mẹ hắn vui lòng? Thằng cháu nhìn mặt hắn, hình như đã hiểu đôi phần bèn gỡ rối:
-Ba để cho cậu ăn cơm, đi từ sáng giờ, cậu đói lắm rồi.
Mẹ hắn biết được tâm trạng hắn, cũng góp lời:
-“Trời đánh tránh bữa ăn”, đứa nào muốn nói gì thì ăn xong hãy nói.

Bữa cơm đầu tiên trong gia đình hơn ba mươi năm gặp lại, rồi cũng trôi qua. Hắn cố gắng nhìn kỹ người đàn ông, bây giờ là em rể hắn. Người đàn ông này mà là “kẻ thắng trận sau cuộc chiến?”
Với vóc dáng gầy gò, ốm yếu, con người khắc khổ trông già nua trước tuổi, nhưng nét mặt nhìn kỹ cũng không mấy thay đổi với người thanh niên ngày trước hắn gặp cũng tại nhà này.



Ngày đó, trong “Thánh thất”, nơi Ba hắn thường đi lễ, Ông đã gặp và động lòng trắc ẩn nên dễ dãi cho người thanh niên này đến nhà ở nhờ, vì nghe đâu bị “mồ côi cha mẹ”, không nơi nương tựa nên phải vào chùa ở. Người thanh niên trông bề ngoài rất “ngoan đạo”, biết chữ nghiã và chơi đàn tranh rất hay, luôn được mọi người trong đạo có cảm tình. Biết ba hắn thích đờn tranh, nên đã không ngần ngại đến gần làm quen và hứa đến dạy đờn cho ông Cụ. Mục đích anh ta đã đạt được trong mấy năm dài, khi mà nhà hắn trở thành một nơi chốn an toàn, và nơi mọi tin tức hành quân gì của “phe ta” đều được người thanh niên thâu lượm hết. Bao nhiêu bạn của hắn đã đến nhà thăm chơi, bao nhiêu người có chức sắc trong cảnh sát, trong quân đội, đều tạt ngang qua nhà hắn nói chuyện với ba hắn râm ran, vô tình khai vanh vách nay “tảo thanh” chỗ này, mai đi hành quân chỗ kia, nhất là những “căn cứ địa” của bọn cộng sản nằm vùng. Hắn không biết rõ ngày đó có bao nhiêu cuộc hành quân của “phe ta” bị thất bại? nhưng rõ ràng là hắn cảm thấy giật mình khi nhớ lại, vì một thằng phi công về thăm nhà, ngồi nói chuyện với tên “cộng sản nằm vùng” mà không hề hay biết.

Nhìn quanh một lượt, hắn đặt câu hỏi:
-Tại sao nguyên cả xóm mình, không nhà nào bị bom, bị cháy, mà chỉ có nhà mình bị? Hắn muốn chính tai nghe được câu trả lời thỏa đáng.
Người đàn ông suy nghĩ một chút rồi trả lời:
-Không dấu gì anh Hai, trước khi cả nước được “giải phóng”, nhà mình được chọn làm căn cứ cho cách mạng đặt bộ chỉ huy cơ sở, nên “bọn Nguỵ” nó chấm toạ độ pháo kích vào. Lúc đó thì mẹ và nhà em đã được “cách mạng đưa sơ tán” vào Chùa ở rồi.
Hắn tức muốn lộn ruột lên khi phải ngồi nghe những từ ngữ “cách mạng, nhân dân, giải phóng, khoan hồng..v..v..”, mà từ lâu hắn ghét cay ghét đắng. Hắn muốn hét thật to cho vơi đi sự nghiệt ngã, trớ trêu. Thì ra chính hắn và gia đình hắn cũng đã góp phần vào việc làm “mất nước!” Dù vô tình, nhưng đã lơ là không truy xét “hồ sơ lý lịch” của đối phương. Mà làm sao xét được, khi mà trong phủ Tổng thống cũng đầy dẫy những tên Cộng sản gộc “nằm vùng”, ngay cả trong binh chủng không quân của hắn, cũng có khối binh sĩ, hạ sĩ quan, ngay cả sĩ quan mặc quân phục không quân Quốc gia mà hoạt động cho cộng sản như tên Pi-lot Nguyễn Thành Trung chẳng hạn. Hắn nghĩ vừa giận vừa thương cho những người quốc gia quá trọng tình người, quá nhân bản, quá dễ dãi để cuối cùng làm người bị thua cuộc một cách tức tưởi, thảm hại..

Người đàn ông tiếp lời:
-Anh Hai đã dzề tới nhà rồi, cả nhà đều đoàn tụ, cũng nhờ ơn “cách mạng”. Bao nhiêu năm nay tui lo cho gia đình này, hôm nay anh có mặt ở đây, nên ngày mai tui mời anh Hai lên thăm “cơ sở ủy ban nhân dân hành chánh xã”, dù gì tui cũng từng là “bí thư chi bộ đảng”, không lẽ tui không “động viên” được “Việt kiều” về nước “đóng góp” cho xã ta.

Như thế này là quá rồi. Hắn muốn “tranh luận” với người đàn ông đang nhân danh “cách mạng” mà ra điều kể ơn. Rằng thì là: nếu không có cái tên Hồ tặc du nhập cái đảng cộng sản hắc ám vào nước VN, và không có những tên nằm vùng, những tên cộng sản miền Bắc xâm lấn miền Nam, thì làm gì có chiến tranh giặc giã, để hắn phải làm người Lính bảo vệ miền Nam với hai lần suýt chết, làm gì có cảnh ly tan, cửa nhà hắn đâu bị đạn pháo cày tan nát, mẹ và em gái hắn đâu lâm vào cảnh bị chèn ép để anh ta nhảy ra làm “ân nhân cứu mạng” rồi bây giờ đi kể công? Nhưng hắn nhìn mẹ hắn, nhớ lời bà vừa dặn hồi xế trưa, lại nhớ thêm lời vợ căn dặn trước khi lên máy bay:

-Về nhà, dượng Ba có nói gì thì cũng cố mà nhịn, mục đích là về thăm mẹ. Anh không có lý do gì để đi tranh cãi với một tên cộng sản còn gắn chặt hình ảnh đôi dép râu, cái nón tai bèo. Dượng ấy bị đầu độc quá lâu rồi, từ khi sống chui sống nhủi trong hóc hiểm trên núi Bà Đen chờ đêm đêm lẻn đi “giựt cầu, phá đường”. Nơi mà trên đầu suốt ngày trực thăng bay lên xuống xành xạch, dưới đất là lính đi lùng ban đêm. Mãi đến khi vô chùa làm tên “hiền huynh tu sĩ giả” mới dễ thở(?). Dưới mắt dượng ấy, anh cũng vẫn là một “tên giặc lái, tay sai đế quốc Mỹ”, và vẫn là “người thua trận nên bỏ chạy”. Dù anh có hét toáng lên rằng anh đi chiến đấu để bảo vệ miền Nam, chống bọn cộng sản xâm lăng từ miền Bắc, thì hãy coi chừng, chuốc họa vào thân. Nhớ mục đích là về thăm mẹ, không phải lúc để làm công tác đấu tranh! Bọn chúng thù dai và tiểu nhân lắm, chuyên xài luật rừng, chúng mà kêu lên xã để “làm việc” là không có ngày về, nếu không đưa nhiều tiền ra để “đấm mõm” bọn chúng, hành động “làm tiền” rất có hệ thống, lớp lang. Hãy nhớ, mỗi người một hoàn cảnh, hoàn cảnh nhà mình nó trớ trêu, phức tạp, miễn mình đừng làm gì trái với lương tâm, đừng đứng dưới lá cờ máu của họ mà tuyên bố vung vít như tên tướng hèn râu kẽm của binh chủng anh, là không ai phiền trách gì đâu…


Hắn thở dài, tập vài hơi thở theo bài tập khí công để điều hoà lại nhịp đập con tim. Có ở trong cảnh ngộ mới thấm được nỗi đau, sự bực bội. Làm sao hắn có thể nói chuyện bình thường với người “cộng sản giáo điều” này, dù trong gia đình, có vị thứ anh vợ-em rể, nhưng hai ý thức hệ vẫn là hai lằn ranh cách biệt, hắn ghét cay ghét đắng lá cờ máu kia, lý do chính trong nhiều năm nhất định không về thăm mẹ, vậy mà phải nhìn ngồi người em rể vác về để sờ sờ trước mắt.

Hắn tự hỏi: chẳng lẽ mình cũng là một người hèn? Không! ngày đó hắn “anh hùng” lắm chứ. Có những cuộc hành quân tiếp tế, chứng kiến trực thăng bạn bị cháy ngay trong vùng trời trước mặt, nhưng hắn vẫn bay qua dàn phòng không của địch để lao vào đạp những ống chứa nước bằng đạn pháo binh cho tiền đồn mà binh sĩ gần như sắp chết khát, hoàn thành phi vụ. Có những chuyến bốc quân, địch nã pháo gần ngay bãi đáp, nhưng hắn vẫn đưa con tàu xành xạch sà xuống để lính nhảy lên. Nhiều chuyến tản thương, mà bộ đồ bay dính toàn là máu, túi áo bay lúc nhúc những “dòi bò” vì không kịp kéo kín “phẹc-mơ-tuya”. Nhưng bây giờ, ngồi đây, ngồi để nhìn một người đàn ông gầy gò, đen đủi, già nua “lên lớp” mà không thể mở lời đối đáp được sao? Hắn bèn gạt qua một bên lời mẹ và vợ dặn, phản ứng lại thật mạnh dạn sau khi nhờ thằng cháu nấu ấm trà nóng với mấy cái tách để ngồi …đối ẩm tâm sự.


Hắn bắt đầu với giọng nói chậm mà rõ:
-Bây giờ tôi không nói chuyện với anh (hắn lịch sự gọi người đàn ông) về cái đảng cộng sản, về nhân dân, về cách mạng gì ráo, ba chuyện đó đối với tôi chỉ là sự tuyên truyền láo khoét. Chỉ có ngần ấy chữ mấy anh cứ nói tới nói lui như con vẹt. Tôi chỉ hỏi anh một câu đơn giản, và hãy thành thật trả lời: bao nhiêu năm nay nhà này làm sao có tiền để sinh sống, xây cất lại nhà cửa và con anh có thể lên Sài gòn học đại học?
-Thì do anh chị ở bên ngoài gửi về giúp.
-A ha! Vậy tiền đó là tiền Mỹ hay tiền Hồ?
Người đàn ông khựng lại, hắn được thể nói tiếp những điều rất thực tế, dễ hiểu may ra giúp người em rể, người cộng sản quanh năm suốt tháng lẩn quẩn lần quần trong cái xã xa thành phố, có thể “tỉnh ngộ”. Hắn đang làm công tác “tư tuởng” ngược? Có lẽ từ trước đến giờ chưa ai nói, không dám nói hoặc không thèm nói cho anh ta nghe, cứ nhịn mãi như mẹ hắn và cả em gái hắn nên anh ta không nhìn rõ được thực hư?.
-Tôi nói cho anh nghe, bao nhiêu năm anh đi làm cách mạng, gây tang tóc điêu linh cho bao nhiêu người, cuối cùng anh được cái gì đâu, chỉ tôi xem? Chung quanh làng xóm của anh được cái gì, hay cũng còn nghèo xơ, nghèo xác?



Lúc nào mở miệng ra cũng cách mạng, cũng nhân dân, mà không đủ sức nuôi nổi một gia đình. Anh còn mơ ngủ, hay không chịu sáng mắt ra. Mấy thằng cộng sản chóp bu, lãnh đạo cái đảng của anh, chúng nó giàu nứt đố đổ vách do ăn cướp của nhân dân, ăn hối lộ không nương tay, con chúng nó vung tiền ăn chơi như rác. Còn anh, suốt ngày cứ khư khư cách mạng, nhân dân, ôm ba cái lá cờ đỏ, lá cờ hại dân hại nước, tôi ghét cay ghét đắng. Anh khư khư giữ nó có thể thế cơm no bụng được không? Hay no bụng nhờ cơm áo gạo tiền từ xứ Mỹ?
Người đàn ông rướn mặt lên ngó chăm bẳm vào hắn, sự ngạc nhiên hiện rõ lên nét mặt. Được thể đứa cháu tiếp:
-Cậu nói đúng đó Ba à, bao nhiêu lâu nay con muốn nói cho ba hiểu ra, nhưng con sợ ba buồn. Người ta làm “cách mạng” giàu có, còn ba thì cứ ôm cứng bác Hồ, cái đảng cộng sản của ba, sợ bị phê bình là hủ hoá, sợ kiểm điểm gì đó, rốt cuộc nhà mình nghèo rớt mồng tơi, may mà con xuống thành phố học hành rồi làm việc cho công ty nước ngoài, nên cũng đỡ khổ. Nếu không có cậu giúp đỡ thì nhà mình làm sao được như dzầy..
-Sao con ăn nói “phản động” dzậy?
-Ba với mấy đồng chí của ba cứ hay dùng từ phản động để áp đặt lên “tư duy” của người khác! Đứa cháu tiếp: Con và lũ bạn con từ lúc hiểu biết sự đời, tụi nó đâu có thèm để ý đến “Bác, đảng, cách mạng” gì đâu, miễn sao khi ra khỏi trường đại học, tìm được một chỗ làm tốt, thường là các công ty nước ngoài, sống thoải mái là được. Đứa nào mà vô đảng, chẳng qua chúng nó là con ông cháu cha, học dốt lại muốn làm ông to, bà lớn. Lớp nữa muốn tiến thân bằng con đường tắt, đâu có đứa nào còn tin đảng nữa, nhưng chúng không ngu gì nói thật(cả nước đều nói láo!), sợ công an tới nhà còng tay dẫn đi, chụp cho đủ tội lỗi nào là âm mưu chống đối đảng, phá hoại cách mạng, xâm phạm đến quyền lợi của nhân dân, mặc dù không người nào có một cây đinh ở trong tay, rõ ràng ai cũng biết cái “đảng của ba” đã dùng “bạo lực cách mạng” để đàn áp người ta mà!
-Nhưng mà…
-Không nhưng nhị gì cả! hắn bồi thêm: nước Việt nam bây giờ đâu còn “xã hội chủ nghĩa” nữa, tụi nó theo tư bản hết rồi, mà bày đặt gọi “kinh tế thị trường” cho khác chế độ trước. Chúng đem “Bác Hồ” ra làm bình phong, dùng công an trị để doạ nạt, bắt bớ, bỏ tù những ai không a-dua theo bọn chúng. Ngày mai, anh thử lên xã ghi tên nghỉ mấy ngày, tui sẽ đưa anh và cả gia đình lên Sài gòn, để anh nhìn thấy bọn cán bộ đảng của anh sống như thế nào, hay là nhờ có cách mạng, nhân dân mà tên nào cũng ở nhà lầu, đi xe hơi sang trọng, sống như ông hoàng bà chúa. Còn anh, cứ đem cái đảng ra dọa, ai nói đụng tới là bắt bớ giam cầm, làm khó dễ bà con…

Hắn nói xong một hơi, cảm thấy thoải mái vô cùng, nhưng cũng giật mình thót bụng. Bao nhiêu năm ở xứ sở tự do, muốn nói gì thì nói, nhiều khi có kẻ khơi khơi kêu tên “tổng thống” ra xài xể chơi, nhưng cũng chẳng bị gì. Có điều ở đó hắn nói, mà người nghe cũng đồng cảnh với hắn. Ở đây, trước mặt hắn là người cộng sản chính cống, dù chỉ là một tên cộng sản tép riu. Nhưng sự “bằng mặt không bằng lòng” sẽ khiến hắn bị công an còng bỏ vào tù, tẩn cho một trận, hoặc bắt “làm việc” liên miên để khủng bố tinh thần là điều có thể xảy ra. Hắn lại càng không muốn làm “người hùng nổi tiếng”, khiến vợ con hắn ở bên kia phải chạy đôn chạy đáo để kêu cứu, nhờ sự giúp đỡ, để cứu hắn ra. Mới nghĩ đến điều đó, hắn đã ớn xương sống. Thôi thì đàng nào hắn cũng đã có chủ trương “chỉ về thăm mẹ”, không thể làm phiền đến gia đình, vợ con và những người đang đấu tranh chống cộng. Cả nước gần tám chục triệu người còn “ớn” một triệu đảng viên, hơn hai triệu người đi tị nạn, cũng chưa thấy làm gì để dẹp được lá cờ đỏ kia, liệu một mình hắn, với vài câu nói bình thường, đâu đáng để “tàn đời trong ngõ hẹp?”

Thế là hắn đã đưa mẹ và em gái lên thành phố ở cho đến khi hắn về lại Mỹ, dứt lòng rời xa, từ giã ngay căn nhà có cánh cổng sắt sơn màu đỏ, dù đó là nơi chôn nhau cắt rốn và rất nhiều kỷ niệm của tuổi ấu thơ.


(Viết theo lời kể của người lính Không Quân)

Thứ năm, ngày 24 tháng chín năm 2009

ĐONG ĐƯA NGÀY THÁNG

Buổi sáng ông dậy thật sớm, theo thói quen nấu một ấm nước sôi, pha bình trà nóng. Trong khi chờ đợi, ông làm một ít động tác thể dục cho xương cốt khỏi cứng đơ, đó là một bài tập tai-chi, mà người bạn đã dạy lại cho ông từ bữa đến nhà chơi năm trước.





Rồi ông mở cửa ra vườn sau, trên những lá cây non còn đọng những hạt sương long lánh, không khí mát dịu hoà cùng mùi thơm của hoa lài, hoa ngọc lan, hoa nguyệt quế, hoa hồng v.v.v., hàng chục thứ hoa trong vườn quyện vào nhau làm ông choáng ngợp trong thích thú, sảng khoái vô cùng.







Hai vợ chồng con chim cu đất đang nằm ấp trứng trên chậu cây, đưa ánh mắt đen lay láy
và vô cùng thân thiện nhìn ông, ông nhè nhẹ đưa tay vuốt đuôi con chim cu trống. Con chim
mập ú, no tròn, thường ngày vẫn lấy thức ăn ông để trên cái máng nuôi chim đặt ở mảnh
đất vườn sau.




Hôm nay nó vẫn nằm im không bay đi, chắc là con chim con sắp sửa ra ràng,
nên hai “vợ chồng chim” phải canh gác thật cẩn thận làm ông thêm vui thú trong lòng.
Đúng là “đất lành chim đậu!” Cặp vợ chồng chim này hằng năm vào đầu mùa Xuân, vẫn
tìm đến nhà ông để làm công việc truyền giống, cùng một thời gian, cùng một chậu hoa
chưa bao giờ ông thay đổi chỗ, chúng đẻ rồi ấp mỗi lần chỉ có hai trứng chim, và luôn nở
trọn được hai con chim con, đến khi chúng đủ lông đủ cánh bay đi được là vợ chồng, con
cái cùng dắt dìu nhau bay đi mất biệt, muốn gặp lại chúng phải chờ mùa xuân năm tới.





Cầm vòi nước tưới đều cho những chậu cây trong vườn, là lúc tiếng chuông cửa reo vang, ông chạy vội vào nhà và đến mở chốt cửa trước, người mẹ bồng đứa con nhỏ trên tay, tay kia khệ nệ xách cái giỏ, trong đựng nào tã, nào sữa lảng cảng, lỉnh kỉnh, ông vội mở toang cánh cửa và đưa tay xách hộ cái giỏ cho người mẹ trẻ, bà vợ ông từ trong bếp chạy ra bồng đứa bé đặt vào cái giường ba-by để sẵn nơi phòng khách, người mẹ trẻ dặn ba điều bốn chuyện gì đó rồi vội vã ra xe, tiếng xe chưa rời thì đã có tiếng chuông reng, ông đi ra mở cửa, thằng bé cỡ hai tuổi cứ níu lấy áo mẹ, giùng giằng chẳng chịu bước vào nhà khiến cho ông phải giữ hoài cánh cửa, người mẹ năn nỉ hồi lâu thằng bé mới chịu líu ríu cầm tay ông để bước vô nhà, nhưng vẫn ngoái cổ nhìn xem mẹ đã đi chưa.

Cầm tay đứa bé mà ông chạnh lòng. Ông bà ngày xưa thường hay nói: “Bảy mươi chưa què đừng khoe rằng lành”. Nào ai biết được mẹ của đứa bé này bây giờ phải lâm vào cảnh “single mom”. Một mình mang vào người đứa con có cha mà cũng như không. Ngày trước, mẹ của bé là con nhà danh gia, lập gia đình với một người Mỹ bản xứ, thuộc loại “đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi” . Nhiều người trẻ ước mơ, lắm kẻ đem con mình ra so sánh, người nào cũng trầm trồ khen ngợi sao mà tốt phước! Vì là con nhà triệu phú, nên anh ta dù có bằng cấp Luật sư, vẫn không thích đi làm. Nhưng họ vẫn vui vẻ, hạnh phúc trong một thời gian. Khi cô vợ sinh cho chàng ta hai đứa con có trai có gái, hạnh phúc từ từ rời xa họ, để đến một ngày dắt nhau ra toà án ký giấy chia tay. Đời buồn không dừng lại nơi đó, chuyện con cái như chiếc dây thòng lọng làm khổ đời cô, ban đầu cô được giữ con, người chồng cuối tuần đến đón. Nhưng với tiền rừng bạc bể, chàng ta cứ đem sự việc ra toà kiện cáo đòi bắt con. Theo kiện hoài có bao nhiêu tiền cũng cạn, cô buông xuôi cho người chồng nuôi con, thế cũng xong! Trong nỗi cô đơn của người mẹ trẻ, cô có người bạn trai mới đến an ủi, chăm nom, và rồi đứa bé này ra đời và cô nhất quyết giữ lấy cháu bé, không cho người cha thừa nhận con? sợ nếu có chuyện gì không may nữa xảy ra, con mình lại vuột khỏi tầm tay mình lần nữa. Cô quyết một mình nuôi con.
Mấy lần mở cửa, mấy lần đóng, nhà ông bây giờ là một “vườn trẻ tình thương”. Vì trong đám con nít loi choi lóc chóc kia, có cả hai đứa cháu nội- ngoại của ông nữa, cha mẹ chúng cũng đem giao chúng cho ông bà coi dùm để tiện việc đi làm, lắm lúc chúng còn than vãn mới có một đứa con mà bận quá…“lo không nổi”! Nghĩ đến ba chữ đó ông thắt ruột và càng thương bà vợ vô cùng.

Những ngày xa xưa đó, ông đi lính trận miền xa, bà ở nhà cũng phải đi làm, mà một nách bầy con dại, cũng nuôi nấng đàng hoàng, tại vì mỗi lần ông về phép là một mầm sống tượng hình, để đến ngày tàn cuộc, đứa bé nhất mới tròn hai tháng tuổi. Những ngày dài nối tiếp là chuỗi dài khốn đốn cho người vợ trẻ của ông, thân ông tù tội cực khổ, đói rét đã đành, bà ở nhà còn phải chịu trăm cay, ngàn đắng, một mình tất tả, ngược xuôi, vừa lo lắng nuôi con, vừa lo bới xách thăm nuôi chồng tù tội. Đến khi sang tận bên này, cũng đi cày mút chỉ, mà vẫn không sót trách nhiệm với con, giờ đứa nào cũng có gia đình, có công việc ổn định, vậy mà nuôi có mỗi đứa con cũng …than trời! Nói nào ngay, từ khi đặt chân lên xứ sở này, vợ ông, người đàn bà cũng một thời áo dài, giày gót nhọn ngồi trước bàn máy đánh chữ như ai, đi làm hãng điện tử được một thời gian, bỗng chốc trở thành chị vú em chuyên nghiệp sau chỉ có một ngày huấn luyện để lấy licence!

Và ông, từ lúc quyết định ..retire non, là đường tương lai đã đi vào ngõ cụt! Nhiều lúc ông tự hỏi đã quyết định đúng hay sai? Ngày ngày, công việc bắt đầu từ buổi sáng vẫn là giúp bà lo cho bọn con nít lóc nhóc đủ cỡ tuổi, từ việc thay tã, làm bình sữa, giúp cho em bé bú, rồi đổ rác, phụ nấu cơm, có khi chạy ra chợ mua dùm bà bó rau, miếng đậu hũ, hay dĩa bánh bèo, ông thấy mình cũng được việc ớn, đâu phải kẻ vô công rỗi nghề, lại có thêm được nghề mới, nghề nào chẳng là nghề, miễn do sức lao động của mình làm ra, đâu phải ăn bám xã hội.

Sáng chủ nhật rồi anh đi lính không tới nhà thăm em, chắc là em mong lắm phải không khi vắng bóng người yệu? Rồi đây những ngày anh vắng bóng em có còn đi nữa không ? Đường đông, nhưng mà anh đâu có để mà em khoe áo hồng?

Vừa đẩy cái máy cắt cỏ với những tiếng nổ rầm rầm, vậy mà miệng ông vẫn còn hơi để lẩm nhẩm mấy lời ca ông thích thuở nào. Ôi! Thời gian cứ y như “bóng câu qua cửa sổ”. Mới ngày nào cũng sáng chủ nhật đẹp trời, ông oai vệ hiên ngang trong bộ quân phục quân trường, lạng lên lạng xuống qua con ngõ nhà ai, rồi sau đó nhận sự vụ lệnh ra đơn vị chiến đấu, anh dũng oai hùng đánh giặc bao nhiêu năm, để rồi…

Hôm nay đây cũng là một sáng chủ nhật trời trong và gió mát, nhưng chẳng thấy em nào “mong lắm” cả, ngoại trừ cái máy cắt cỏ và đám cỏ mọc lởm chởm ở sân trước, sân sau. Ông nhớ lại lời ông bà xưa: “Trời sinh voi, sinh cỏ”! nhưng nghiệm lại ở xứ này coi mòi trật lấc, Voi thì được nuôi nấng kỹ càng trong sở thú có cặp có đôi, lâu lâu sinh được chú voi con, bàn dân thiên hạ mừng rỡ như bắt được…voi. Rồi đem chiếu lên truyền hình cho toàn thể dân chúng mừng ké. Voi được o bế như thế nên cỏ cho voi ăn chưa hẳn do trời sinh(?). Đi khắp xứ sở này, thấy chỗ nào cũng cỏ mọc xanh rì, phẳng lỳ như tấm nhung tơ, nhưng chẳng phải do trời sinh sao có vậy đâu à. Muốn cỏ đẹp phải mua đúng cỏ về trồng, rồi sáng sáng, chiều chiều phải tưới nước đều đều, rồi phải mua phân về bỏ xuống, rồi phải chổng mông lật cỏ dại, để rồi cuối tuần phải…cắt! Nhà ai loạng quạng không chịu “tết-ke”, để cỏ hơi cao lùm xùm một chút, là cứ y như rằng có giấy gửi tới nhà …cảnh cáo, lần sau bị phạt.

Nói gì thì nói chứ cắt cỏ, quét lá cũng là một nghề nữa của ông. Trong nhà cũng có thằng con trai, nhưng không hiểu tự bao giờ, nó thẩm nhập câu tục ngữ: “Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!”, mà vì nó không có cô chú bác gì ở đây, nên có bao nhiêu công sức nó đều dồn vào nhà bạn gái nó. Nghe đâu đám cỏ nhà người nó cắt láng coóng mỗi tuần, còn ở nhà ông thì hầu như nó …hổng thấy bao giờ. Bà vợ ông có khiếu nại thì nó xách xe dông tuốt. Rõ ràng “con hơn cha là nhà …tróc nóc!” Nhưng biết sao bây giờ?
Hôm nay chủ nhật, nhà ông yên tĩnh lạ thường, vì không có vườn trẻ tình thương. Sau khi cắt cỏ dọn dẹp cũng đã gần trưa, lại chuẩn bị đưa bà vợ đi chùa. Đi chùa xong lại thong dong đi chợ.




Thành phố Houston lúc sau này đông vui đáo để. Người ta xây dựng lên cả một khu thương mại hoàn toàn nói tiếng Việt nam vì bảng tên hiệu đều viết chữ Việt. Chỉ cần lái xe lên xuống hai vòng, hai bên đường đều có những cơ sở thương mại cần đến. Này nhé; đói bụng thì vào tiệm phở, tiệm cơm tấm, tiệm hủ tiếu hay bún bò, rồi vào quán nước, quán cà phê, nghe nhạc, thấy bài nào ưng ý, chui ngay vào tiệm nhạc để mua tí nữa đem về. Sẵn có nhiều sách báo, có báo biếu, báo mua tuỳ ý, trong khi chờ bà vô chợ, ông ngồi xem báo đỡ mất thì giờ. Ăn xong lỡ có đau bụng, hay lên cơn suyễn, thì phòng mạch bác sĩ cứ ..walk-in, bác sĩ cho toa qua tiệm thuốc sát bên là có thuốc, thuốc tây có ngại thì thuốc ta cũng không phải đi xa.





Vô tiệm ăn “all you can eat”, ăn thả dàn lỡ bị trúng mẻ răng, có phòng nha sĩ sát bên cũng tiện. Ngồi lâu đau lưng quá thì vô tiệm đấm bóp cho đỡ đau. Chiều chiều buồn tình vô quán nhậu, lỡ có nhậu xỉn xô xát với nhau, cũng có trạm cảnh sát, sát bên ra phân xử. Nếu lái xe chí tử, đụng cái rầm mà xác còn, hồn đi, thì cũng có nhà quàn bên cạnh sẽ rước về sau khi đưa người đi giảo nghiệm ở nhà thương. Đến giai đoạn này thì khỏi phải bon chen chi cho mệt, cứ vô chùa nằm im trong bình đất mà nghe tụng niệm để hồn siêu thoát lên chốn thiên thai, nhưng có nhiều người lại bảo “về dưới” vui hơn lên trên đó (?)
Nói chung, nơi ông ở không thiếu một dịch vụ nào trong đời sống hằng ngày mà người sử dụng phải cần tiếng nói của người bản xứ, nên nhiều người mới đến đây vẫn sống phây phây, đâu cần học chữ của người.



Đong đưa ngày tháng như ông kể ra cũng quá lý tưởng. Nhưng trong ông vẫn vương vấn nỗi buồn. Vẫn mơ một ngày được trở lại quê xưa, sống lại thời trai trẻ, được “tự do” ăn nói chẳng chút ngại ngần, không phải bực mình vì những chuyện gai mắt, trái tai…Tất cả quá xa vời, dù ông vẫn tích cực tham gia vào những buổi sinh hoạt cộng đồng, không biết những ngày ông còn tại thế, có đạt được điều ước mơ???