Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

 



                

                    MỘT CHUYẾN ĐI-VỀ


        Vị Bác sĩ “chăm sóc” sức khỏe cho tôi, ông “phán” một câu làm tôi …mừng hết lớn, khi tôi đến khám bệnh định kỳ và hỏi về chuyến đi: “chị có thể đi xa được rồi, nhưng nhớ cẩn thận, tất cả mọi thức ăn, nước uống đều phải nấu chín, không được ăn trái cây mỏng vỏ, tránh xa những nơi dễ bị nhiễm trùng, tôi cho chị thêm vài loại thuốc mang theo để ngăn ngừa …”. Thôi thì lúc nào đi được, cứ đi, chứ …biết đâu!

        Tôi vẫn mong ngày về lại Nha trang, trước là gặp những người thân trong gia đình, cảm ơn những thân tình của anh chị, các cháu trong những ngày qua đã thường xuyên hỏi thăm an ủi, khuyến khích, chúc lành và góp lời cầu nguyện cho bệnh tình tôi chóng khỏi. Và cũng là cơ hội để gặp lại các bạn bè Sư phạm Qui Nhơn năm xưa, sắp tổ chức ngày hội ngộ chắc là vui lắm.

        Phi trường Cam Ranh ồn ào náo nhiệt, không như những năm trước nghe đâu vắng tanh như chùa bà đanh. Đoạn đường về nhà tôi hoàn toàn đổi khác, đường sá rộng rãi, nhà cửa hai bên đường san sát, có nhà cao ngất ngưởng, đầy dẫy, đông đúc quá, người ta còn đang đào bới, xây cất lung tung, ngay cả trong hóc núi hai bên đường. Cháu tôi, trên đường đi đón tôi về còn giới thiệu thêm…hiện tình thành phố: “đất Nha trang bây giờ ở đâu đâu cũng là đất vàng, chỗ nào rờ vào cũng đứt tay”. Chưa tới nhà mà đã nghe muốn…xỉu, lại  nghe cháu dẫn giải tiếp: “Người từ miền Bắc tràn vào, có khi nguyên cả làng họ kéo vào đây hết!”. Thì ra là một sự “di dân” từ Bắc vô Nam, chứ chưa hề có từ Nam ra Bắc(?) từ xưa đến nay. Thành phố Nha trang lại càng khác xa hơn nữa, khách sạn nhiều tầng cao nghều nghệu chạy dọc suốt đường biển mang tên vua Duy Tân năm nào, bây giờ đổi thành tên Trần Phú, tên của một cộng sản gộc.

        Đèn đường sáng choang, xe cộ dập dìu chạy ngang xẻ dọc, xe hai bánh chạy loạn cào cào, xe bus dài thoòng đậu san sát khắp nơi. Người đâu mà đông quá. Hóa ra, mấy lúc gần đây nhiều người đã nói về sự “nhộn nhịp” của thành phố Nha trang không sai. Người Tàu đến Nha trang nhiều vô kể. Họ được quyền “mua nhà” với giấy phép năm mươi năm của chính quyền VN cấp, một thời gian dài để đủ cho họ “sinh con đẻ cái” và sống hợp pháp trên lãnh thổ Việt nam. Nhiều khách sạn cao tầng họ cũng “thuê” hằng trăm phòng, trả tiền trước và có khi…để trống khơi khơi. Họ đến Nha trang với diện “du lịch không đồng”(?). Nghe nói là họ được chính phủ Trung cộng cho sang Việt nam mà không tốn tiền vé máy bay, họ mua hàng hóa cũng từ “cửa hàng Trung cộng”, đi ăn nhà hàng cũng của…Tàu luôn, nên có một số tiệm buôn ở Nha trang mang bảng hiệu chữ Tàu, tất cả “phí tổn” khi về nước Tàu mới trả. Nói chung, là dịch vụ buôn bán ở Nha trang do người dân VN làm chủ không có lợi gì cả, chỉ có…rác thải từ những người Trung cộng ăn to, nói lớn, ở bẩn bầy hầy khắp mọi nơi…

        Người Nga lúc trước đến đông, chỉ thích tắm biển và tắm bùn. Nhưng lúc này ít đi du lịch Nha trang vì ngại người Tàu cộng(?).

        Nhưng, dù sao Nha trang vẫn là thành phố thân thương trong tôi, thành phố có quá nhiều kỷ niệm để nhắc nhớ của thời mới lớn và đi dạy học đang chạy đọc trong đầu.

        Hình ảnh con phố lớn Độc lập, Phan bội Châu,…những con đường chính trong thành phố vắt ngang qua khu chợ Đầm hay đường phố Nguyễn Hoàng, Huỳnh thúc Kháng, Nguyễn Trãi ôm lấy khu chợ Xóm mới năm nào, mỗi sáng chủ nhật rộn ràng trong nhịp thở của một thành phố Lính. Đủ mọi sắc áo của Lính, của gia đình lính, đủ mọi loại xe cộ, từ chiếc xe Honda đàn ông, đàn bà, đến chiếc xe jeep màu xanh, đến chiếc xe truck, xe nhà binh…Thành phố rộn ràng đón người Lính từ các Quân trường ra nghỉ cuối tuần, đón người Lính từ chiến trường về dưỡng quân nơi thành phố, đón người yêu, đón gia đình của Lính từ khắp cả đất nước về thăm viếng người thân. Người thành phố cũng rộn ràng cuốn theo nhịp thở vui nhộn, bừng bừng sức sống vươn lên từ những trái tim yêu dù hoàn cảnh đất nuớc có ra sao…

        Xa xa một chút bên vùng biển Bãi dương, những hàng dừa cao rũ bóng ngã dài xuống bãi biển dẫu còn hoang sơ, nhưng vùng nước không sâu, chỉ là còn nhiều rong rêu trôi lềnh bềnh trên những đợt sóng nhấp nhô đang muốn tấp vào bờ, nhưng vẫn là nơi tắm lý tưởng cho những ai muốn xa rời thành phố một thời gian ngắn.

        Rồi đến Hòn chồng, một thắng cảnh nổi tiếng của thành phố Nha trang, nơi có năm ngón tay in rõ hình trên vách đá, dấu tích của một thời mới khai sinh lập địa, có những hóc đá …trữ tình, có lẽ nhiều người chui vô trú nắng nhiều quá, nhất là những “đôi tình nhân” nên mặt đá nhẵn thín, ngồi êm ru. Muốn đến được nơi này, phải đạp xe lên một đoạn đường dốc dài (hay đi xe lam), nhưng thú vị lắm, phải leo qua những cụm đá, phải dẫm chân lên những vũng nước mà leo qua đá chồng đá chất mới đến ... sờ được mặt đá “Hòn chồng”. 

         Phố biển chiều hanh nắng, dưới bóng những khóm dừa lả ngọn, là hình ảnh của những nhóm người trong gia đình, trải tấm nhựa dài và cả nhà già trẻ lớn bé quây quần chia nhau nắm xôi, trái cốc ngâm, rồi cùng nhau nhảy ùm xuống nước biển, đùa giỡn với  sóng nước mênh mông … Hình ảnh những người Lính ngồi trong quán nước bên ly cà phê, mơ màng nhớ về người yêu nơi xa xăm nào đó, hình ảnh bác xích lô chụp mũ lên mặt ngủ một giấc dài trên chiếc xích lô đậu ngoài mé biển, hay chiếc xe đẩy hàng rong với mớ cốc ổi ngâm nhem thèm bọn con gái, chiếc xe cà tàng bán đu đủ bò kho cho bọn học trò trai nhao nhao chờ đến lượt…

        Bãi biển ít người im ắng, nhưng thơ mộng ngay những lúc xế trưa đó, tất cả đã đi vào dĩ vãng…xa rồi và có lẽ ngàn đời sau không bao giờ tìm lại được!

        Nhớ lại con phố nhỏ năm nào từ những ngày ở Nhatrang, sao lòng thấy nao nao buồn muốn khóc.

         Từ khi dời nhà từ đường NguyễnTrãi sang Phù Đổng Thiên Vương, con phố nhỏ thật yên bình, thân thiện như bà con một nhà của những người hàng xóm láng giềng. Cạnh nhà tôi bên trái là khoảng đất rộng của nhà chú Tư, vợ chồng chú là người từ Quảng Ngãi vào Nha trang lập nghiệp từ lâu lắm. Khi đó đám đất hãy còn trống trơn và chú thiếm đã dựng lên ngôi nhà hai tầng khang trang với gia đình có một đứa con trai độc nhất, thằng “cu Tài”. Chú thiếm “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa” cả xóm ai cũng trầm trồ khen thằng nhỏ “tốt phước”, dù chú thiếm chỉ là những công nhân bình thường.

        Sau lưng nhà là cả một vườn cây ăn trái của “Dì Bảy Đọt”, vì lấy tên của người con trai lớn đang là Lính không quân phục vụ trong sân bay, cậu chàng cũng đờn giỏi hát hay nổi tiếng trong xóm. Căn nhà nhỏ xinh xắn nằm gọn trong vuông đất rộng cả mẫu tây, nên Dì dượng trồng rất nhiều cây ăn trái, vì nó không nằm ngoài mặt đường, nên muốn vào nhà phải vào bằng một con hẻm, nhưng đâu có sao. Nhà trồng ổi nhiều lắm, có một cây tàn rộng phủ qua hàng rào nhà tôi, phủ lên cả một hồ đựng nước, nên cứ mỗi xế trưa, tụi tôi tha hồ leo lên cây ổi mà hái trái chín mơn mởn, với một nắm …muối ớt cay cay, mặn mặn để thanh toán ổi thơm tại chỗ thật …tuyệt vời, lôi cuốn rất nhiều tên bạn đến tham gia hái ổi ..trộm nhà hàng xóm.

        Và  đối diện là nhà của “bà Bắc” bán chạp phô, tiếng gọi thân thương dù bác ấy đã lớn tuổi rồi. Bác trai làm Thượng sĩ trong quân đội nhưng nuôi cả một đàn con trai gái đủ đầy, có hai anh lớn làm đến chức Thiếu tá trong quân đội VNCH, những bạn gái cỡ tôi đều xuất thân từ trường sư phạm.

        Cạnh bên là nhà của Thầy giáo Ng. năm nào cũng …sản xuất thêm nhân số, đứa lớn đứa bé gì cũng ở trần trùng trục, mạnh khù khù cứ chạy u ra trước ngõ, để vợ của Thầy phải bưng chén cơm vừa chạy vừa kêu tên mấy đứa nhỏ, mà chúng tôi cũng chẳng nhớ hết tên luôn. Bên cạnh là nhà “ông thợ sắt”. Thật ra chú là người của dòng dõi vua chúa di cư vào đây, hình như là anh em của ngài…Vĩnh Thụy thì phải, vì chú cũng có họ Vĩnh. Mấy người con trai của chú trắng trẻo, nhẹ nhàng như con gái, nhưng không phải…đối tượng của con gái xóm tôi.

        Nhà ông Huế thì có nhiều phòng cho thuê, từ Đại hàn, Mỹ, đến cảnh sát, quân nhân ta, hay những người  độc thân…tại chỗ, nên tấp nập người đến kẻ đi, vui lắm lắm.

         Chung quanh xóm nhà nào cũng quen biết, thân tình với nhau. Nhà thiếm Hai kế tiếp rất đông con, chiều nào chú hai cũng lùa cả đám con leo lên chiếc pick up truck mà chạy về tận thôn Đại điền thăm nhà từ đường của chú. Tháng nào có người em từ trường võ bị Đà lạt về thăm, cả xóm cũng “ăn mừng” theo với gia chủ, và cũng là “đề tài” để đám con gái trong xóm bàn tán, khen chê.. Nhà chú Thông bên kia có tiệc vui gì cả xóm cũng được biết.

         Nhà “bà Quận” với mấy cô con gái rượu suốt ngày ngồi xe jeep, được “ông Lính biệt phái” chở đi tới đi lui đủ chỗ đủ nơi, bữa nay đang làm tiệc…đón chàng rể nào cả xóm cũng được tin. Ôi cái xóm nhỏ mà vui, chia xẻ buồn vui trong cuộc sống đời thường, ngay cả những buổi kêu mời nhau đến “dự đám giỗ” của một nhà trong xóm, mà bọn nhỏ chúng tôi hay hát đùa: “Tai nghe có đám giỗ gần, trong bụng bần thần chẳng muốn nấu cơm” cho đến những ngày đầu tháng tư của năm 1975, ngày “tang thương” của cả thành phố và những người trong khu xóm nhỏ.

         Ngày đó xóm nhỏ vẫn còn tồn tại, dù người đi đã đi, nhưng những căn nhà chưa hề đổi chủ, tuy có mấy căn nhà lớn bị “chính quyền mới” vào tịch thu đề làm văn phòng hành chính mới, nhưng vẫn còn đó những trao đổi thân tình, những quan tâm thăm hỏi về những khó khăn, những chịu đựng nhọc nhằn đang đổ oằn trên vai những người thành phố bởi đám người “giải phóng miền Nam”! Những ngày tháng tư đen tối hãi hùng đổ ập lên đầu cả những người dân hiền lành ở những phần đất đã bị “quân giải phóng” chiếm đóng. Và xóm nhỏ nhà tôi cũng không ngoại lệ. Ba má tôi khóc hết nước mắt vì hai người con trai, một đại uý ở bộ tổng tham mưu, một đang học tại Sài gòn không hề biết tin tức gì cả. Những người bà con lánh nạn vào ở trong nhà đã về lại quê ở Phú yên, và người cháu gọi má tôi bằng dì đã bị “quân giải phóng” bắt và chặt đầu chỉ vì từng làm “xây dựng nông thôn”. Mấy người con còn lại thì cứ phải “đi lánh nạn” bom đạn từng đêm từ những ngày đầu tháng tư năm đó.

        Nhà bà Bắc trước cửa giờ chỉ còn lại bác trai với vợ chồng người con gái thứ. Bác không đi tù vì không phải sĩ quan. Bác buồn bã suốt ngày không nói một câu, cứ đi ra đi vô thở dài, ngay cả ba tôi có hỏi han Bác cũng không buồn nói. Những ngày tháng mà người Nha trang phải chịu những trận “bom” từ những chiếc máy bay, bay đến thả những trái bom tấn chết người vào ban đêm do phía những người Lính ...quân mình! Bác buồn bỏ cả ăn uống và trút hơi thở cuối cùng mà mắt mãi không chịu…nhắm. Lúc chúng tôi hay tin chạy sang nhà, để chứng kiến giờ phút lâm chung của bác mà không cầm được nước mắt, vì bác cứ nấc lên từng cơn, như luyến lưu điều gì mà uất hận không nói được, đến khi tôi và người con rể của bác phải “năn nỉ” Bác hãy buông xuôi mà thanh thản ra đi về một nơi chắc không có chiến tranh giặc giã nữa, và những người thân của bác chắc không về gặp được bác đâu…, lúc đó bác mới từ từ nhắm mắt xuôi tay. Nỗi buồn chi mà buồn lạ buồn lùng khi người đầu tiên trong xóm tôi ra đi mà không có đám tang cho đúng nghĩa.

        Trong khi cái “ủy ban quân quản” suốt ngày cứ ra ra cách mạng này cách mạng kia với bảy điểm gì đó với cái giọng chanh chua chát chúa, nghe lạnh sống lưng của những người miền Bắc, từ những cái loa bắt cùng khắp trên các trụ điện chỉa thẳng vào nhà dân mà chưa chắc người nào muốn nghe, thì sau lưng nhà tôi, giọng ca và tiếng đờn của Đọt cứ vang lên, nhiều khi nghe réo rắt, có lúc u uẩn xa xăm. Rồi Đọt hát những bài ca tiếng Mỹ, dĩ nhiên có bài chúng tôi chưa từng nghe qua, nhưng sao nó như xoáy vào tận ruột gan…

        Nhưng rồi, một buổi tối cả xóm tôi ồn ào và cùng chạy tới “trụ sở khóm” là nhà ông bà cảnh sát đã di tản, để thấy Đọt bị công an đánh tới tấp vào lưng, vào mặt mà không hề kêu la đau đớn gì cả. Thì ra Đọt đã làm một việc mà chắc không ai làm được, anh chàng đã “leo” lên tận sân thượng nhà bác Từ Vân và đứng hát trên đó, dù không biết Đọt đã leo bằng cách nào? Vì trên tường nhà không có cầu thang. Rồi “cách mạng” cũng phải thả Đọt ra vì không “điều tra” được nguồn tin phản động nào. Sáng hôm sau thì bên trường học, đã chứng kiến một cảnh tượng chưa từng có. Đọt đã “ngồi vắt vẻo” trên trụ cờ bé tí xíu, và đang xé cờ “mặt trận giải phóng miền nam” nửa xanh nửa đỏ đang treo rũ rượi trên đó, bên dưới là một đám công an la lối om sòm, và bọn học trò nhỏ thì bàn tán xôn xao như cái chợ, vì không hiểu làm sao mà Đọt leo được lên tới ngọn, khi mà cái trụ cờ bé tẻo tèo teo. Đọt “điên” từ đó và bị cột chân vào gốc dừa thê thảm lắm, đến mấy năm sau mới mất…Thương lắm.

         Nhưng đó là chuyện dĩ vãng xa rồi, có nuối tiếc cũng chỉ là nuối tiếc.

        Dù tất cả đã xa, nhưng có một nơi vẫn tồn tại để các bạn Sư phạm Qui Nhơn của tôi tổ chức họp mặt: Nha trang hotel năm nào.

        Ngày xưa muốn vào sinh hoạt ở nơi này chắc không phải dễ. Đây là hotel đẹp và nổi tiếng, là bộ mặt nổi của thành phố Nha trang lúc bấy giờ, phải là người “có tiền” mới bước chân vô. Nhưng hôm nay có ít nhiều đổi khác, nên các bạn trong Ban tổ chức, nhất là người “nổi tiếng trong thành phố” như “lớp trưởng Sương” của chúng tôi năm nào, đã chọn nơi này làm “điểm hội tụ” cho các bạn từ các nơi về trú ngụ và tổ chức đêm vui và mục đích cũng là nhắc nhở về những kỷ niệm của những ngày tháng …giáo  sinh trong trường SPQN.

        Mới ngày nào tôi xách va li ra khỏi cổng phi trường Qui Nhơn là hiên ngang đưa tay vẫy chiếc xe lam ngừng lại, leo vội lên làm như ta đây rành đường đi nước bước lắm lắm, mà không biết rằng mình đã đón lầm hướng xe, bác tài xế biết chuyện bèn ngừng lại, cho tôi xuống ven đường và đón dùm tôi chiếc xe khác chạy ngược vào Sư phạm, thay vì vô phố. Ngày đầu tiên đi học đã có kỷ niệm rồi. Không hiểu tại sao hồi đó Ba má tôi lại cho tôi thượng lên máy bay từ Nha trang đi Qui Nhơn mà không cho đi xe cùng chúng bạn? dù có đứa trong bọn đã biết rõ đường đi.

          Phòng nội trú số 3 của chúng tôi lúc đó chứa đến những 36 người nữ giáo sinh, đông vui không kể xiết, nhất niên và nhị niên đều ở chung với nhau, miễn là những người quen biết. Nhưng hên quá, sự “ồn ào náo nhiệt đông vui” kia đã sớm kết thúc, vì nội trú mới đã cất xong chỉ chừng hơn vài tháng sau đó, và dĩ nhiên, khóa 7, 8 chúng tôi, là những tên học trò “ưu tiên một”, vì đã được hân hạnh “Khánh thành” khu nội trú, nam nữ cách nhau bởi hai dãy lớp học dài và ở được những hai năm liền trong thời gian học tập với một phòng chỉ có 4 tên, có tủ riêng, giường nệm riêng và cả bàn ghế để ngồi học bài, còn có một phòng tiếp tân chung với TV, ghế ngồi sang trọng ngay cửa ra vào nội trú.

        Hồi đó chúng tôi học lớp hai, lớp lấy Anh văn làm sinh ngữ chính, có bà cô giáo người Mỹ với sóng mũi thật cao, mà nhiều lúc Cô đã tức giận bỏ ra đứng ngoài cửa lớp không thèm dạy tiếp, vì cái đám nữ giáo sinh quỉ quái, lại làm biếng có hạng, không chịu quét gián nhện trên cửa kính dù đã phân công trực hàng ngày, để cô giáo mỗi lần đến đứng gần cửa sổ ngước mắt nhìn trời mây bên ngoài là cứ y như rằng lỗ mũi cô dính đầy mạng nhện, để lũ quỉ phá ra cười và cô thì ngơ ngơ, ngác ngác, hỏi hoài không chịu nói.

          Phòng ở nội trú của lớp chúng tôi được thống lĩnh một dãy dài ở trên lầu ba gió lộng, lại có cửa sau để…dòm ngó được dưới hành lang dẫn vào nột trú, nên những lúc rảnh rỗi, những đôi mắt nai ngơ ngác, những đôi mắt thiên thần của những ai kia, bỗng trở thành sáng trưng nhìn người không chớp mắt, và nhiều nhiều những nhân vật đi bên dưới đã được quan sát và ghi nhớ kỹ vô cùng, lẫn với đám thực khách bên “căng-tin” kia,  nơi chốn gặp gỡ của những người hùng lính trận, những nam giáo sinh hay những người vào thăm “thân nhân” bên nội trú nữ đều được chúng tôi “điểm danh, ghi nhớ.

        Lớp hai chúng tôi “nổi tiếng như cồn” về nhiều mặt. Với một sĩ số hơn năm muơi tên đủ miền đất nước từ Quảng Trị đến Phan Thiết, nên “nhân tài” vô số kể. Ngoài việc học chúng tôi còn tham gia những sinh hoạt khác của trường một cách tích cực, và cũng bởi tích cực quá độ mà có lần chúng tôi bị…ném đá tơi bời, may mà cả bọn đã học được tí võ…NÉ Bình Định nên nhanh nhẹn né tránh thật hay. Chẳng qua vì lớp tôi có chị Lý Bùi Yến, tên thì mảnh mai như cánh én đang bay liệng giữa mùa Xuân, nhưng người thì thuộc “dạng thể thao” có hạng, nên được bầu làm trưởng ban thể thao của nhà trường luôn, thế là mỗi lần đội bóng tròn nhà trường đi đấu giao hữu ở đâu, là chị vận động một đám nam nữ giáo sinh theo…cổ võ, (Có lẽ nhờ vậy mà trường Sư phạm thắng đều đều?)

          Có một lần chúng tôi được vận chuyển bằng hai chiếc xe GMC nhà binh vượt đường đèo lên tận xứ AN KHÊ, không biết có phải vì đội tuyển thủ của trường giỏi, hay đội địa phương quá dở, để chúng tôi hét mừng khan cổ vì những trái bóng lọt vào khung thành của đối phương, mà thủ môn đội nhà địa phương đứng trơ mắt ếch ra ngó, đến nỗi dân làng đi xem tức mình vì bị quê, thế là có màn… “đá bay từ muôn phía, đá văng lại nơi đây” làm chúng tôi hãi quá, bèn ngồi thụp xuống lòng xe và…im lặng là vàng. May quá, nhờ Trời thương, chẳng có ai bị thương tích nặng, chỉ có một nam giáo sinh bị…gãy hai cái răng cửa (về sau mới biết anh cộng chỉ số với thủ khoa khóa 8. lớp tôi). đến khi xe xổ dốc xuống đèo trở lại trường, đám tụi tôi mới dám lớn tiếng hoan hô: “Trường Sư phạm QN toàn thắng!”.

        Bộ môn văn nghệ mới là đề tài để các lớp tranh nhau biểu diễn, những tấm “bích chương quảng cáo” được dán đầy khắp hành lang nội trú, phòng học: “một đêm văn nghệ với đầy đủ thi-ca-vũ-nhạc-kịch được ra mắt tại phòng sinh hoạt do lớp nhị hai phụ trách”. Oai quá cỡ thợ mộc khi cả trường xôn xao, có người náo nức nôn nao để xem cái bọn này nó trình diễn ra sao mà …quảng cáo xôm tụ?, nhưng cũng có mấy tên trề môi, xí dài họng khi có bóng dáng chúng tôi đi qua.

        Dĩ nhiên đêm văn nghệ chúng tôi ra quân lần đầu thành công …vượt bực, vì trưởng ban văn nghệ Sửu của chúng tôi đã…khai thác triệt để nhân tài của lớp: giới thiệu chương trình đã có Trần Tuyết với giọng nói “Bắc Kỳ” nhỏ nhẹ, ngâm thơ hay đã có Trịnh thị Vui, những giọng oanh vàng đơn ca vừa ..hùng vừa dịu đã có chị Tuyết mông-rô (chị đã qui tiên rồi), Lê thị Liên v.v.v, Vũ thì khỏi cần nói, được trưng dụng tối đa, với một bầy con gái được chọn làm thiên thần, nữ hiệp như Mỹ Linh, Trà Mi, Kim Phúc, Nguyễn t. Thuận, Hoàng Yến, Phạm Thuận (còn nhiều lắm)…. Mấy tên cao cao một chút như Sương, Phan Tuyết, Lành, Vinh, Thu Mai, Sơn Thái…, thì bị “đổi giống” thành nam nhân mà không phải qua một cuộc giải phẩu nào, để vào vai những điệu vũ như “Hải quân hành khúc, Hận đồ bàn”v..v.. được khen quá cỡ. Những màn hợp ca, tứ ca, tam ca, ngay cả kịch nữa, trưởng ban văn nghệ Sửu, lớp trưởng Sương và tôi, cùng “tự biên tự diễn” kịch vui: “Ta về ta tắm ao ta!”. Nội dung là người đàn bà nhà quê …bỏ chồng, học đòi lên thành phố ăn diện lòe loẹt, kệch cỡm trông mắc cười. Hai vợ chồng cứ choảng nhau, cuối cùng nhờ chị người làm “cải tạo tư tưởng” cho bà vợ qua bài hát “Quê nghèo”, chị vợ “ngộ” ra quay về với chồng, thế là “ta về ta tắm ao ta..” hahahaha. Cái chị nhà quê lên tỉnh cũng do tui đảm nhận, được bạn Yến ở ngoại trú …mượn dùm cho một cái áo dài “tếch ních co lo” mà mới nhìn qua đã thấy…lạnh lùng rồi, cùng với anh chồng Sương và người làm Sửu đã khiến bà con cười chảy nước mắt, nên sáng hôm sau thầy giáo Cộng đồng vào lớp cứ hỏi: “trò nào đóng vai nữ đó? Thầy cười mệt quá!”. thầy đâu biết cái con nghịch phá đang ngồi ngay trước mặt Thầy. Về hoạt cảnh, đóng vai Mẹ già thì không ai qua mặt được Nguyễn Yến, còn lại những bạn không lên sân khấu được thì ở dưới…kéo màn, tiếp nước, dù rằng lớp “cộng đồng” của chúng tôi là nhị 7, với anh trưởng lớp…đẹp giai nhất trường, đã tình nguyện giúp nhiều tay, nhưng lớp trưởng Sương của chúng tôi chỉ cảm ơn và tuyên bố để lớp làm lấy mình ên.

          Cũng bởi lớp tôi …nổi quá mà mấy lớp bạn cũng trổ mòi thi đua về sau hay hết biết. Nhất là lớp 3, có cô bạn Bùi thị Thu Hằng, với giọng ca thiên phú thật truyền cảm, một giọng ca chính của trường, không thể thiếu trong bất cứ buổi văn nghệ nào. Hằng hay đến phòng tôi vào lúc nửa đêm, khi mà cả nội trú chìm vào tĩnh lặng, có người đi dần vào giấc ngủ, cửa phòng đóng kín, nhất là những đêm tối trời, điện đã cúp từ lúc mười giờ, tụi tôi ngồi trước hành lang tối thui, nơi đó những bài hát “Hoài Cảm, Suối mơ hay Thiên Thai” được giọng ca vàng của Hằng cất lên, thật khó mà diễn tả tâm trạng của người nghe lúc đó, và cũng vì chúng tôi biết có nhiều tên trong nội trú gần đó lắng nghe Hằng hát, nhưng đêm tối thùi lùi chúng chẳng thấy chi chi, thế là Hằng và tôi bèn lấy tấm ra trắng, lần mò xuống sân nội trú, phủ lên mấy cục đá có sẵn giữa sân, một lát sau hết hát, mò xuống lấy lên cất kỹ. Và sáng mai, có tin rỉ tai nhau: trong sân nội trú có Ma! Ha ha ha vui quá là vui!

          Từ đó phong trào văn nghệ trong trường nổi lên rầm rộ hơn trước, và lớp năm, lớp của các bạn Phạm thị Yến, Nguyễn thị Trường, những cô bạn cũng ra đi từ Nha trang, đã nổi đình nổi đám với những hoạt cảnh như Hò kéo lưới…, từ đó chúng tôi quen biết nhau, dù rằng không cùng một lớp…

        Nửa thế kỷ trôi qua một cái vèo, ngoảnh mặt lại tên nào cũng đà… “mất dạy”. Kẻ vượt thoát ra ngoài thì ít có ai dư thì giờ để đi học lại mà trở về bục giảng, ngoài công việc làm ăn để nuôi con, người còn ở lại đến bây giờ cũng đã quá tuổi nên phải về hưu, thôi thì cũng đã xong một kiếp làm Thầy Cô giáo, và hôm nay các bạn tổ chức họp mặt…

        Tôi đến nơi này vào buổi sáng ngày họp mặt, đã thấy một số các bạn từ xa về ngồi sẵn ở sảnh đường. Ngoài các bạn trong Ban tổ chức như Sương, Yến, Cường, P Mai, Tuyết, Kim Thoa, Bảy, thì tôi chưa… nhận ra bạn nào cả. Ai vậy trời? “Mày” không nhớ “Tao” sao? Nhớ chứ sao không nhớ? Uả mà bạn…tên gì? (hìhìhìhi), ngày đó tôi và bạn có sinh hoạt chung không? Chưa gặp bao giờ thì làm sao mà nhớ hở trời? Nhất là mấy chàng nam giáo sinh từ lớp sáu đến lớp mười, nếu không gặp gỡ làm sao mà…biết ?, ngoại trừ lớp bảy là lớp cộng đồng, nên phải sinh hoạt chung, đi cộng đồng về miền quê, nên có nhiều thân tình bạn hữu, thí dụ anh chàng Lê Xuân Quảng, ngày xưa đóng kịch vào vai “bà mẹ Gio linh”, chính cá nhân tôi phải “hoá trang” cho chàng thành …bà già khú đế để lên sân khấu trình diễn, và các bạn trong ban hợp  xướng của trường mà tôi là thành viên trong đó. Mỗi khóa có đến mười lớp, chia cho nam nữ năm lớp đều nhau.

        Người đầu tiên nhận ra nhau là Phương Võ lớp nhị ba vừa vào đến, tôi cũng hét toáng lên sao bao nhiêu năm Phương chẳng thay đổi gì nhiều, chỉ có “đẹp lão” thêm thôi. Huế, người đẹp “Ban mê” thì tôi đã gặp lâu rồi, kỳ này vẫn đẹp. Nhìn ra…Trà Mi lớp tôi đây sao? Cô bạn đẹp dịu dàng, với mái tóc thề buông xỏa ngang lưng, làm say đắm bao chàng nam Giáo sinh thuở đó, bây giờ bạn ngồi đây với quá nhiều thay đổi, cứ như là “bà mẹ của người bạn nước láng giềng” thay vì “mẹ Việt Nam!”. Nhưng Trà Mi vẫn yêu đời, vẫn vui vẻ về dự họp mặt với bạn bè, tôi trân quí tình cảm của bạn vô cùng.

        Rồi các bạn nhị hai lớp tôi từ từ xuất hiện: đây là nguời đẹp xứ Huế mộng mơ và có giọng ngâm thơ rất tuyệt: Trịnh thị Vui. Rồi Nguyễn thị Thu, rồi Lý, Hương Sen - cô bạn lúc nào cũng nhỏ nhẹ dễ thương. Rồi “mẹ Việt Nam Đàm Ái Mỹ”, người bạn cần cù, chăm chỉ từ tốn trong từng câu nói, đã mang theo những tờ lưu bút ngày xưa chúng tôi viết cho bạn, và “trao về khổ chủ” để làm kỷ niệm lúc cuối đời, thương quá là thương! Cô “bé Tiến” xinh xắn vẫn đi bên cạnh cuộc đời của Thầy giáo Ngô Hữu Phước cũng vừa từ Tuy Hòa vào, có người thắc mắc sao Tiến vẫn…bé xinh hoài, vậy mà ngày xưa làm sao đứng trên bục giảng nhỉ? Có Xuân 50, nhưng bạn cứ im lặng cười cười, Ngô Nhung với chàng Vũ nữa nè, “đôi uyên ương cộng chỉ số” hài hòa nhất lớp tôi, hát cũng hay nữa. Rồi “thủ khoa” của khóa 8: Vương Thủy Tiên và người cộng chỉ số là “Dân đẹp trai” của lớp sáu, người bị đám dân An Khê quá khích “mượn tạm” hai cái răng cửa, khi cả đoàn chúng tôi đi làm “cổ động viên” cho đội bóng tròn của nhà trường tham dự “trận đấu giao hữu” và phe ta toàn thắng, phe An Khê thua nên nổi máu “anh khùng” vác đá ném chơi cho bỏ ghét!

        Chúng tôi xa nhau từ ngày nhận nhiệm sở ra trường, và thú thật các bạn…về đâu? dạy trường nào? cá nhân tôi mù tịt, ngoại trừ mười người về ty Tiểu học Khánh Hòa. Ngày đó, được xếp vào hạng “top ten” như chúng tôi, dễ dàng nhận nhiệm sở theo ý muốn, Và khi cầm được tờ “sự vụ lệnh” trên tay, mừng quá rời khỏi trường và bay luôn về …nhà mẹ chẳng để ý đến ai, nên đâu biết nhiệm sở của bạn mình đã nhận. Kể ra ngày đó sao quá vô tâm!

        Buổi họp mặt vui không tưởng. Chắc không ai nghĩ rằng đây là buổi sinh hoạt của nhóm người “bảy bó” có thiếu thừa chút xíu. Ngày xưa bọn tôi cứ tha hồ rống họng hát to mọi lúc mọi nơi để …giới thiệu về mình cho bà con biết: “một đàn Sư phạm đi qua, chẳng thiếu chi nhiều chỉ thiếu tiền tiêu, ố tang tình tang, ố tang tình tình..” Thì bữa nay, dù đã nửa thế kỷ sau, vẫn quậy tới bến. Vì từ khi ra khỏi ngôi trường sư phạm thân thương với hai năm đèn sách, đám giáo sinh “nội trú nữ” của chúng tôi bỏ lại đàng sau quá nhiều kỷ niệm, khi mà một “lũ con gái” cuối tuần chẳng có đi ra khỏi trường, cứ quẩn quanh phòng trực nội trú, thấy chàng nào…léng phéng dám bước qua khỏi cổng nội trú, là la toáng lên “bắt trụng nước sôi”, làm mấy chàng tá hỏa tam tinh phóng trở ra không kịp.

        Trưởng ban tổ chức vẫn là “lớp trưởng Sương” của chúng tôi và các bạn Yến, Tuyết…

        Tiếc rằng quý Thầy Cô giáo năm xưa giờ đã quá lão, nên không có ai về tham dự với học trò già! Chỉ biết gửi lời cảm ơn dù muộn.

        Người từ các nước xa về thành phố được BTC trao tặng “vòng hoa chiến thắng” trời ạ. Mèn ơi vui thì thôi! Có các chị khóa trên như Chị Hạnh, chị Hương Diễm, chị Xuân và các bạn Hồng Vân, Hoan, Cúc 47, Diệu, Thuận Lê, anh Hòa Em.., (không biết có sót ai?) mỗi người một cái để chớp hình làm kỷ niệm. Cứ như người Hawaii mà chưa múa vũ điệu Haloha được thôi..

        Lớp nhị hai của tôi về họp mặt coi mòi đông nhất, nhưng lớp cộng đồng thì ít quá đi thôi, chỉ có hai bạn là Lê Xuân Quảng và Phạm Lùn, trong khi các lớp khác thì nam nữ đề huề, chụp hình xôm tụ, mà tôi không thể nhớ hết tên. Có chị Bùi Hoa lớp một(?) cũng người Nha trang, ngày trước chỉ biết chứ chưa quen. Sau này nghe các bạn nói chị lập gia đình với anh Cựu Tr/uý H., nhưng không nói rõ lúc nào và sinh sống ở đâu? Anh từng là huấn luyện viên ở trung tâm huấn luyện Lam sơn, và là bạn thân của ông anh trai nhà tôi nên thân tình với gia đình tôi. Nhưng tiếc quá, từ ngày thành phố Nha Trang “đổi chủ” vào tháng ba năm đó (1975), thì vì cuộc sống khó khăn, hầu như không ai còn “quan tâm” đến ai ngoài những người thân trong gia đình, nhất là những ngày “trốn chui trốn nhủi” để tìm đường vượt biên, nên gia đình chúng tôi chưa bao giờ có cơ hội gặp lại anh, nên rất buồn khi nghe chị Hoa báo tin anh đã qui tiên. Một nén nhang thắp muộn, cầu nguyện cho linh hồn anh được siêu thoát về chốn vĩnh hằng. Đa số các bạn lớp khác thì chỉ biết tên qua mạng Face book khoảng thời gian gần đây, giờ gặp mặt nên cảm thấy thân tình, đùa vui tự nhiên như là bạn tâm giao lâu ngày gặp lại. Xin cảm ơn FB đã làm chiếc cầu nối cho người…

        Mục Văn nghệ “phụ diễn” giúp vui sau bữa ăn tối cũng có thi-ca-nhạc. Các bạn trong BTC chuẩn bị chu đáo lắm, nhất là “Yến ốc tiêu-siêu tài nghệ”, chuyện chi làm cũng thông, các bài hát xưa cũ cũng đem ra trình diễn, đồng ca, đơn ca tá lả, hay và vui hết biết. Cái tôi cũng bị “bắt cóc bỏ dĩa” làm anh nông dân đi…tìm vợ vừa mới bỏ chồng ra đi. Mất có “một con vợ” mà cuối cùng tìm được những tám người vợ mới! Ai cũng cười vui thoải mái là tốt rồi! Vui là chính mà! Những giọng ca “chính” hôm nay thật tuyệt vời, tôi cứ ngỡ các bạn mình đang hát trên sân khấu kia cỡ chừng năm mươi mí là cùng, nhưng  không đâu, “cụ  bà”  Bích Tuyền, “cụ ông” Ngô hữu Phước ơi, giọng hát để đời hay quá. còn các …cụ khác cũng hát hay, mà cụ già này quên mất tên rồi nên không kể được, sorry nhé. Có Vui ngâm thơ, có…???

        Có mục chơi xổ số, có lắm người may mắn trúng số làm quà kỷ niệm. Anh chàng Quảng vẫn quậy như xưa, làm bà con cười quá. Đêm vui qua mau, các bạn phải về nghỉ lấy sức cho ngày mai đi du ngoạn.

        Hai chiếc xe bus dài ngoằn chở hơn trăm mạng người vượt quãng đường dài hằng mấy mươi cây số tiến về bãi biển có tên Bãi Dài, làm tôi liên tưởng đến chuyến du hành Cù lao Xanh năm nào. Ngày đó chúng tôi còn trẻ, mà khi ra khơi, với tài lái tàu … lượn qua lượn lại, lướt sóng trùng khơi của mấy bác Hải quân muốn làm le với đám giáo sinh(?), cũng làm cho nhiều bạn cho cá ăn chè, ngất ngư con tàu đi. Nhưng khi bước được lên bờ, thì tha hồ đi tìm phong cảnh để…chụp hình, dù không nhiều như bây giờ, nhưng cũng để lại nhiều hình ảnh quí..

        Nhưng bữa nay thì, mỗi người là một “nhiếp ảnh gia” chuyên nghiệp. Bãi biển “Bãi dài” nước trong  xanh thẳm, bờ nước không sâu có thể tắm được. Nhưng trời có mây thấp, hình như muốn mưa nên có vài đợt sóng nhỏ nhấp nhô, khiến cho một số bạn không dám xuống, sợ ướt quần!.hahhha…Thế là tuôn ra chớp hình, chớp đủ kiểu, chớp không ngừng, cứ nhảy từ nhóm này qua nhóm khác, Anh bạn Đỗ Hữu, trở thành người số một trong nhóm nhiếp ảnh gia, chỗ nào cũng gọi nên Đỗ Hữu thật đắt hàng. Nhưng có lúc bạn ấy cũng tham gia trò chơi “đi bắt cá cho má nấu canh chua”, và “bị” mấy bạn giáo già đòi “bắt cua” của bạn, nên bạn…sợ quá chạy lặn mất tiêu. Còn có nhiếp ảnh gia Nguyễn Chí Hải, Hoan Nguyễn, Trịnh Vui…nhiều và nhiều bạn lắm, tha hồ giỡn sóng và chụp hình, cứ như hồi còn trẻ đi Cù lao Xanh.

        “Hình như là người xưa?”! trí nhớ của anh bạn lớp chín (10?) hay thật! “Có phải là H Vân không?” Anh đã nhận ra được cô bạn HV thật sao? giỏi thế. Ngày xưa bạn ấy nhỏ nhắn dễ thương lắm, giờ thì …phát tướng, đổi màu da nhưng bạn vẫn nhận ra. Úi chu choa, gì chứ mục “phá” là cái đám “cô giáo già mất dạy” này không tha đâu. Chỉ cần nghe một bạn loan tin anh bạn lớp cộng đồng vừa tìm ra…cố nhân ở lớp năm, thế là cả đám cùng a lại cất giọng hét: “ Năm mươi năm rồi không gặp , giờ nhìn em thế này, anh lẹ làng…dông mất, vì sợ em…níu tay..” hahahaha, thế là các bạn khác cũng ùa vào hát…tặng cho hai bạn ta vừa nhận diện ra nhau, khiến anh giáo già phải lẳng lặng rút êm vì mấy cô giáo già phá quá (khi đọc giả đọc xong chuyện này thì biết cô bạn HV không còn trên dương thế. Một nén nhang cầu nguyện cho linh hồn bạn sớm siêu thoát về cõi vĩnh hằng.)

        Cảm ơn các bạn tôi trong Ban Tổ chức ngày Xuân họp mặt Khóa tám SPQN Nha trang nhiều lắm lắm. Hy vọng những ngày vui sẽ còn mãi trong trí nhớ của mỗi  một người tham dự. Cảm ơn tất cả các bạn ở mọi miền về chung vui, cho tôi có dịp “tay bắt mặt mừng”, dù ngày ấy chẳng hề biết nhau, nhưng đâu có sao, bây giờ …quen cũng được vậy, hìhìhì…

        Một số cô giáo già tiếp tục Nam tiến vào Phan Rang tìm bạn cũ. Chỉ có Minh 49, Ngọc Minh và Nữ Vi mà các bạn cũng tổ chức cho nhóm chúng tôi đi ngoạn cảnh nhiều chỗ lắm, được đi vào vườn nho, đi lên Chùa, đi xuống biển, đi thăm căn nhà xưa của vị Tổng thống nước VNCH cũ, nhìn căn nhà mà chạnh lòng, bùi ngùi thương cảm. Nếu “so sánh” với dinh thự nguy nga của các “quan ngài” thời bấy giờ thì một trời một vực. Ngày ấy các Ông to Bà lớn có cuộc sống “khiêm tốn” quá, chẳng như bây giờ….

        Buổi tối cô con gái đẹp của Minh 49 còn mời mấy dì đi hát karaoke. Cháu cứ ngỡ mấy bà già “mắc cỡ” nên ngại hét, nhưng cháu…lầm to! Mục này thêm hấp dẫn vì có giọng hát của Thu Hằng, người bạn hát hay nhất của khóa tám năm xưa, bây giờ bạn vẫn còn hát ở các phòng trà chuyên trị nhạc tiền chiến. (Cảm ơn Thu Hằng đã cho T chụp lạì tấm hình bọn mình cùng trình diễn trên sân khấu của trường với bài hát “Se chỉ luồn kim”, bạn là giọng ca chính, bốn tên Sương, Phan Tuyết, Trần Tuyết và Vinh ngồi minh hoạ). Rồi Ngô Hữu Phước và Tiến cũng xuất hiện, Đỗ Hữu và bà xã Tâm cũng hát tới bến luôn, rồi Ngọc Minh, vv…vv..toàn là những “giọng ca vàng” nghe khoái lỗ tai gì đâu. Kể ra SPQN có nhiều nhân tài quá.

        Cảm ơn các bạn khóa tám ở Phan Rang nhiều, nhờ các bạn mà chúng tôi biết thêm được quê hương tươi đẹp của tỉnh nhà, có bánh căn ngon nổi tiếng, bánh xèo no bụng….

        Người sống ở Nha trang một lần trở về trên chính nơi mình lớn lên, học hành và làm việc bao nhiêu năm. Thời gian xưa không dài bằng những ngày sống trên đất Mỹ, nhưng vẫn ghi lại nơi đó nhiều kỷ niệm khó quên….

        Nhưng nếu nói đến một chuyến đi-về thì có quá nhiều chuyện để kể vì nghe mệt lỗ tai. Bây giờ ở Việt nam mọi sinh hoạt đã khác xưa. Người cháu ở Tây Ninh, có đứa con trai 25 tuổi đang đi làm với công việc rất ổn định, tự nhiên nhận một tấm giấy kêu đi “nghĩa vụ quân sự”. Bao nhiêu năm không kêu, giờ thấy có thể “làm ăn được” là chính quyền chẳng bỏ qua. Thế là phải “chạy chọt” để khỏi đi vào trại lính, sơ sơ “bảy chục triệu” tiền tươi. Tiền gì mà tính toàn triệu triệu. Có tiền thì được miễn đi lính đã đành, nhưng chuyện muốn đi vào Lính cũng phải “trả tiền” mới là chuyện lạ. Giá phải đưa cho “quan chức nhà nước ta” là năm trăm triệu! Một số tiền không nhỏ, thế nhưng những người muốn con vào “Lính có lon”, vẫn phải chạy vay mượn để đút lót cho…quan ăn. Họ “lý luận” rằng: nuôi một đứa con vào đại học, mỗi năm tốn…trăm triệu khơi khơi, bốn năm là bốn trăm triệu rồi, mà khi ra trường thì…thất nghiệp. Thôi thì tốn một lần, khi con ra trường có…việc vĩnh viễn (không sợ đánh giặc?) Thật tội nghiệp cho những người trẻ và bậc làm cha mẹ thời nay.

        Về thăm nhà người chị quê ở Mỹ Tho, nhưng không ai dám mời khách ăn trái cây, vì không phải chủ nhà vườn nên không biết đâu là trái cây chín tự nhiên và đâu là ngâm hóa chất ? Tất cả mọi chỗ mọi nơi đều “quan tâm” đến thức ăn, đồ uống không an toàn, nhưng bên ngoài chợ búa vẫn bày bán nhan nhản, giá đắt như vàng. Cuối cùng thì họ vẫn phải…ăn, vì “không ăn làm sao sống? chừng nào chết hẵng hay!” hết ý. Nhưng nếu nơi nào có “siêu thị, đa số của Đại Hàn hay Nhật bản, thì còn chút “tin tưởng” để vào đó mua sắm, dù sao “người nước ngoài” vẫn còn chút lương tri, vẫn còn nghĩ đến “an toàn thực phẩm” cho người tiêu dùng, không dám bán thứ dỏm! Nghe mà cay đắng quá.

        Một chuyến đi-về, để lại quá nhiều thắc mắc: người công nhân đi làm với tiền lương quá ít, mà giá sinh hoạt chung quanh thì vô cùng đắt đỏ, nhưng không hiểu sao chỗ nào cũng quán xá đầy dẫy, mà quán nào cũng…kín người ngồi, giờ nào cũng có khách, xe hai bánh hàng hàng lớp lớp đậu choáng hết lề đường dành cho người đi bộ? Thì giờ và tiền bạc???

        Lại đi tìm trái cây an toàn không bơm hóa chất. Tới tận nơi trồng mảng cầu xứ Tây Ninh, khu vực có quá nhiều nhà nghèo, nghe địa danh “Ma Thiên Lãnh” ở gần đó, y như trong chuyện kiếm hiệp của Tàu, người cháu cũng tò mò nên chở mọi người đến xem thử. Đúng là Ma Thiên Lãnh thật, nó hoang vu, chỉ có ngọn núi đá thấp lè tè, có hồ nước nhỏ, và ban tối có…ma là cái chắc?, Nhưng giữa chốn đèo heo hút gió, trơ cằn cây cỏ, thưa thớt bóng người chỉ có cái quán bán cà phê, vẫn có người thiếu nữ trẻ mặc chiếc áo cưới màu trắng dài lê thê lếch thếch, đứng …uốn éo chụp hình cưới với chú rể…Đại hàn. Mong sao cho tình duyên của cô được trọn vẹn, hạnh phúc. Đừng giống như nấm mộ cô gái trẻ ở tuổi 25, nằm cạnh mộ của mẹ chồng tôi ở nghiã trang TN, cô gái làm “dâu xứ lạ” và bị nhà chồng hành hạ đến chết, cha mẹ chở xác về chôn. Buồn!

        Kinh tế đã vậy, chuyện ‘tình cảm” con người nghe cũng bi thảm quá chừng. Cô gái có tiệm tóc bên nhà, cỡ bằng con gái tôi thôi, cô cứ rà rà tâm sự: “Cô ơi, đời sống bây giờ khó khăn và mệt mỏi lắm, tụi cháu phải làm suốt ngày mới có tiền trang trải cuộc sống. Nhưng lấy chồng thì khổ hơn, đàn ông trẻ bây giờ đa số không lo cho gia đình đâu, họ đi…ăn nhậu nhiều hơn, rồi coi cô nào có…tiền thì nhảy vào, nên ly dị nhiều lắm…!” Mong rằng đây chỉ là “tâm sự của riêng cô”, không phải là điểm buồn chung của xã hội, khi mà các ông bà quan to, chức lớn cứ bán đất, bán rừng, bán biển, lấy tiền ăn nhậu, ở khách sạn, “resort” ngoài đảo hơn  ngàn đô la một đêm, mà nơi nào cũng không còn chỗ trống! Trong khi tôi vào bệnh viện, có nhiều bệnh nhân nằm la liệt dưới chân giường bệnh nhân khác, bữa cơm bình thường phải chờ người…bố thí, trẻ em vàng vọt, bệnh sắp chết mà chẳng có tiền đưa cho bác sĩ để được trị liệu. Có bao nhiêu tiền cũng khó mà cứu giúp cho đủ.

 

Đúng là một chuyến đi, rồi cũng phải trở về nhà. Nhà ở Mỹ an toàn gấp nhiều lần trên quê hương cũ. Gia đình, bạn hữu cho tôi niềm vui, nhưng quê hương vương lại nỗi buồn.